Monday, May 13, 2013

Hướng dẫn thực hiện chế độ thai sản 6 tháng.

Ngày 25/4/2013, Bảo hiểm xã hội Thành phố Hồ Chí Minh đã ban hành Công văn 1187/BHXH-CĐBHXH hướng dẫn thực hiện chế độ thai sản 6 tháng cho lao động nữ theo quy định của Bộ luật Lao động.
Theo đó, căn cứ hướng dẫn của BHXH Việt Nam tại Công văn 1477/BHXH-CSXH ngày 23/4/2013, lao động nữ đủ điều kiện hưởng chế độ trợ cấp thai sản mà đến ngày 01/5/2013 vẫn đang trong thời gian nghỉ sinh con theo Khoản 1, Điều 157 của Bộ luật Lao động thì thuộc đối tượng được hưởng chế độ trợ cấp thai sản 6 tháng (lưu ý quy định này không áp dụng cho trường hợp nhận nuôi con nuôi).
Vì vậy, những trường hợp thuộc diện hưởng chế độ thai sản 6 tháng như nêu trên đây, nếu đã được cơ quan BHXH giải quyết hưởng trợ cấp thai sản 4 tháng hoặc 5 tháng thì lập hồ sơ đề nghị cấp bổ sung tiền chênh lệch. Cụ thể như sau:
nhung-dau-hieu-nen-canh-giac-o-tre-so-sinh-kienthuc-net-vn
- Trường hợp người lao động đang tham gia BHXH sinh con thì: 
+Người sử dụng lao động có trách nhiệm lập “Danh sách đề nghị cấp bổ sung trợ cấp thai sản theo mẫu” (03 bản) kèm theo danh sách người lao động đề nghị hưởng chế độ thai sản (C67a-HD) đã được cơ quan BHXH giải quyết trước đây có tên của người lao động mà đơn vị đang lưu giữ (01 bản).
- Trường hợp người lao động đã nghỉ việc sau đó sinh con: nộp đơn đề nghị cấp bổ sung (có xác nhận của chính quyền địa phương nơi đang cư trú) cho cơ quan BHXH nơi đã giải quyết trợ cấp.
Xem toàn bộ công văn và tải về tại đây

Hệ thống chuẩn mực kiểm toán mới: Góp phần nâng cao chất lượng dịch vụ

Ông Bùi Văn Mai
Bộ Tài chính ban hành 37 chuẩn mực kiểm toán mới, hệ thống chuẩn mực kiểm toán này được giới chuyên môn đánh giá như là một luồng gió mới cho lĩnh vực kiểm toán, đặc biệt là trong việc nâng cao chất lượng dịch vụ kiểm toán Báo cáo tài chính.
Vũ Điển

Trao đổi với phóng viên Báo Công Thương, ông Bùi Văn Mai - Phó Chủ tịch thường trực kiêm Tổng Thư ký Hội Kiểm toán viên hành nghề Việt Nam (VACPA), Trưởng ban nghiên cứu soạn thảo Chuẩn mực kiểm toán cho hay, năm 2009, Ủy ban chuẩn mực quốc tế đã ban hành lại hệ thống chuẩn mực kiểm toán. Để phù hợp với chuẩn mực kiểm toán quốc tế, đồng thời cũng là để bổ sung và sửa đổi một số chuẩn mực kiểm toán Việt Nam hiện hành chưa phù hợp với tình hình phát triển của đất nước, Bộ Tài chính nhận thấy Việt Nam cần phải ban hành lại hệ thống chuẩn mực này.Năm 2010 Bộ Tài chính đã giao việc nghiên cứu soạn thảo chuẩn mực này cho VACPA thực hiện. “Đây là văn bản quy phạm pháp luật đầu tiên được ban hành do một Hội nghề nghiệp đề nghị” ông Mai nói.
So với hệ thống chuẩn mực kiểm toán cũ, hệ thống chuẩn mực vừa ban hành có nhiều điểm đổi mới. Trước đây khi tổ chức một cuộc kiểm toán thường dựa vào phương pháp chọn mẫu, là phương pháp phù hợp với điều kiện lúc đó, còn hiện nay nền kinh tế thị trường phát triển đa dạng, các doanh nghiệp, tổng công ty đều phát triển theo hình thức đa ngành, đa nghề, phạm vi rộng, có quan hệ quốc tế nên chuẩn mực mới yêu cầu phải dùng phương pháp tiếp cận, đánh giá và xác định rủi ro. Tức là đánh giá toàn bộ hệ thống kiểm soát nội bộ của một doanh nghiệp từ khâu ban hành đến khâu thực hiện chính sách, nội quy, quy trình xuất nhập, mua bán hàng hóa, tổ chức bộ máy,… xem khâu nào yếu, nhiều khả năng xảy ra rủi ro thì tập trung để kiểm tra, soát xét. Cách tiếp cận mới này sẽ nâng cao kỹ năng xét đoán chuyên môn, kỹ năng đánh giá và nâng cao trách nhiệm của kiểm toán viên.
Ngoài ra trong lĩnh vực kiểm toán, báo cáo kiểm toán là sản phẩm của kiểm toán viên, do vậy việc áp dụng theo chuẩn mực mới này đòi hỏi trách nhiệm của kiểm toán viên, công ty kiểm toán, doanh nghiệp cao hơn. Bên cạnh đó, ý kiến kiểm toán cũng có những đổi mới mang tính bước ngoặt, cụ thể như:  Theo quy định trước đây ý kiến kiểm toán có 4 loại : chấp nhận toàn phần, ngoại trừ, không chấp nhận và từ chối cho ý kiến.  Nếu thực hiện theo phương pháp này kết quả kiểm toán rất chung chung và sẽ không gắn được trách nhiệm của các bên liên quan. Theo chuẩn mức mới quy định chỉ có 2 loại  ý kiến đó là chấp nhận toàn phần và không chấp nhận toàn phần.“Thực tế hiện nay chất lượng dịch vụ kiểm toán giới chuyên môn cho rằng “đang có vấn đề”. Nguyên nhân là do khủng khoảng kinh tế, các doanh nghiệp gặp khó khăn, nên có tâm lý mong muốn làm đẹp báo cáo tài chính, và do hệ thống chuẩn mực kiểm toán hiện hành của ta đã lạc hậu, chưa thể hiện rõ được trách nhiệm của kiểm toán viên, công ty kiểm toán  và doanh nghiệp khách hàng. Do vậy  khi những chuẩn mực mới được áp dụng triệt để thì chắc chắn chất lượng kiểm toán sẽ được nâng cao”, ông Mai nhấn mạnh.
Tuy nhiên, theo ông Mai để hệ thống chuẩn mực kiểm toán này được đi vào cuộc sống, cần phải tập chung chú trọng tuyên truyền phổ biến sâu rộng đến các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp kiểm toán và các doanh nghiệp niêm yết trên sàn chứng khoán.Về phía VACPA chúng tôi đã và đang thực hiện kế hoạch đào tạo, cập nhật kiến thức có liên quan cho hội viên, đã triển khai từ tháng 4/2013. Việc cập nhật kiến thức năm nay sẽ mở rộng cho cả các doanh nghiệp được kiểm toán, thông qua Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước sẽ tập huấn cho các doanh nghiệp niêm yết. Bên cạnh đó VACPA cũng đã chủ trương viết các tài liệu hướng dẫn tóm tắt các chuẩn mực kiểm toán Việt Nam, hệ thống hóa toàn bộ văn bản trên trang điện tử cho các kiểm toán viên và doanh nghiệp thuận tiện tra cứu, viết một số tài liệu hướng dẫn về nghiệp vụ, chuyên môn sâu như vấn đề chọn mẫu, xác định trọng yếu, gửi thư xác nhận…giảng dạy thực hành kiểm toán theo chương trình kiểm toán mẫu và theo chuẩn mực mới,... hợp tác với giảng viên các trường Đại học để đưa các chuẩn mực kiểm toán này vào giảng dạy. Đây là những biện pháp rất hiệu quả mà quốc tế đang áp dụng”, ông Mai cho biết.
(Theo Báo Công thương - số 56)

Đánh giá rủi ro trong ngân hàng thương mại khi kiểm toán báo cáo tài chính


Bộ Tài chính vừa ban hành Hệ thống Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam (VSA) mới áp dụng từ 01/01/2014. Phương pháp luận kiểm toán trong VSA mới là “Đánh giá rủi ro và kiểm tra hệ thống” thay thế cho phương pháp chọn mẫu trước đây. BBT trích đăng bài viết dưới đây của TS. Phan Tiến Đạt để các độc giả và hội viên tham khảo.
TS. Phạm Tiến Đạt

Rủi ro được hiểu là những biến cố có thể xảy ra nhưng không lường trước được. Khi kiểm toán Báo cáo tài chính, việc nhận diện, đánh giá đúng về khả năng tồn tại, mức độ trọng yếu của rủi ro do gian lận, sai sót sẽ giúp xác định đúng đối tượng, phạm vi, nội dung kiểm toán, góp phần nâng cao hiệu quả và chất lượng kiểm toán.
Mục tiêu của kiểm toán là kiểm tra và xác nhận mức độ tin cậy của các thông tin liên quan đến BCTC để đưa ra ý kiến kiểm toán phù hợp, kiểm toán viên (KTV) cần phải phát hiện ra sai phạm, đặc biệt là những sai phạm trọng yếu. Việc nhận diện, đánh giá đúng các loại rủi ro là công việc cần thiết và bắt buộc đối với mọi cuộc kiểm toán.
Trong kiểm toán BCTC ngân hàng thương mại (NHTM), mục tiêu của kiểm toán cũng như vậy. Cuộc kiểm toán NHTM dù được thực hiện bởi tổ chức Kiểm toán Nhà nước, kiểm toán độc lập hay kiểm toán nội bộ, KTV cần phải đánh giá các loại rủi ro trong hệ thống của NHTM, bao gồm rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát.
1.       Nhận diện các loại rủi ro
NHTM cũng giống như các tổ chức kinh doanh khác, hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận nhưng là tổ chức đặc biệt kinh doanh tiền tệ, bằng cách thu hút vốn tiền tệ trong xã hội để cho vay. Hoạt động chính của NHTM là: huy động vốn; sử dụng vốn và thực hiện các dịch vụ trung gian như thu hộ, chi hộ khách hàng có tài khoản tiền gửi tại ngân hàng; dịch vụ chuyển khoản ở cùng một ngân hàng hay ở hai ngân hàng khác nhau; dịch vụ tư vấn tài chính cho khách hàng, dịch vụ giữ hộ chứng từ, vật quý giá, dịch vụ chi lương cho các doanh nghiệp có nhu cầu; dịch vụ khấu trừ tự động…
Ngân hàng là một trung gian tài chính, nên có thể “hứng chịu” rủi ro đến từ hai phía. Để nhận biết rủi ro trong ngân hàng cần quan sát và phân tích các hoạt động mà ngân hàng đang thực hiện. Hoạt động ngân hàng có đặc điểm như sau:
-          Đại bộ phận tiền vốn mà ngân hàng sử dụng trong kinh doanh không phải là vốn của ngân hàng mà được hình thành từ nhiều nguồn khác  như tiền gửi của các tổ chức, cá nhân. Ngân hàng nhận được nhiều hay ít tiền gửi đều ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động của ngân hàng. Rủi ro có thể phát sinh từ sự hình thành các nguồn vốn ấy.
-          Việc kiểm soát và quản lý nguồn vốn thường vượt khỏi tầm quản lý của ngân hàng do tiền đã chuyển cho khách hàng sử dụng. Khả năng thu hồi vốn của ngân hàng không chỉ phụ thuộc vào chính ngân hàng mà chủ yếu phụ thuộc vào khách hàng. Đặc trưng này chứa đựng nhiều rủi ro ngân hàng.
-          Kinh doanh ngân hàng chịu sự giám sát chặt chẽ của cơ quan Nhà nước nên gây nên tâm lý thụ động hoặc ỷ lại của ngân hàng, hoặc “đơn giản hóa”, bỏ qua các vấn đề cần được quan tâm.Chính điều này tiềm ẩn rủi ro khó lường cho ngân hàng.
-          Rủi ro tiềm tàng trong NHTM gồm rủi ro có nguồn gốc nội tại và rủi ro về mặt hệ thống.
Rủi ro có nguồn gốc nội tại như: (i) Rủi ro tín dụng xảy ra khi khách hàng không hoàn trả được nợ đúng hạn hoặc không trả nợ cho ngân hàng. Khả năng này xuất hiện do khách hàng sử dụng vốn không hiệu quả hoặc không có khả năng trả nợ, hoặc do khách hàng không muốn trả nợ. Nguyên nhân khác là do việc thẩm định dự án của chính ngân hàng không chuẩn xác, chính sách tín dụng không hợp lý, không thực hiện tốt khâu kiểm soát trong quá trình cho vay; (ii) Rủi ro thanh khoản xảy ra khi thị trường cấp thay đổi gây khó khăn cho ngân hàng trong việc chuyển đổi các tài sản thành tiền để đáp ứng nhu cầu chi trả. Khả năng này xảy ra khi chi phí giao dịch tăng, hoặc thời gian giao dịch bị kéo dài. Tổn thất mà ngân hàng phải gánh chịu là chi phí phát sinh do phải tìm kiếm các nguồn chi trả khác; (iii) Rủi ro lãi suất xảy ra khi biến động lãi suất thị trường gây tổn thất cho ngân hàng. Rủi ro này xuất hiện trong trường hợp lãi suất của thị trường tăng lên, khi đó, các khoản vay và đầu tư của ngân hàng sẽ sụt giảm giá trị và ngân hàng sẽ bị tổn thất. Trường hợp khác của rủi ro lãi suất là khi lãi suất thị trường giảm, làm cho ngân hàng phải chấp nhận đầu tư và cho vay các khoản tiền huy động với lãi suất cao vào các tài sản với mức sinh lời thấp; (iv) Rủi ro hối đoái là khả năng xảy ra tổn thất khi tỷ giá hối đoái thay đổi vượt quá dự tính; (v) Rủi ro vỡ nợ  là rủi ro khi ngân hàng không đủ vốn chủ sở hữu để bù đắp cho sự sụt giảm đột ngột trong giá trị tài sản do hậu quả của các loại rủi ro khác, thiếu kinh nghiệm quản lý vĩ mô, do sự suy thoái của nền kinh tế, tỷ trọng huy động tiền gửi nhỏ, chủ yếu dựa vào các khoản vay, sự gia tăng các vụ vỡ nợ trong danh mục cho vay của các khách hàng

Rủi ro về mặt hệ thống như: (i) Rủi ro lạm phát là rủi ro ảnh hưởng đến các hoạt động của NHTM do lạm phát tăng cao như khả năng thanh khoản bị suy giảm, khó huy động vốn, hoạt động tín dụng bị kiềm chế và tiềm ẩn nhiều rủi ro, lợi nhuận giảm sút... Lạm phát tăng cao sẽ làm suy yếu, thậm chí phá vỡ thị trường vốn, ảnh hưởng lớn đến hoạt động của NHTM; (ii) Rủi ro công nghệ xảy ra nhưng không tạo được sự tiết kiệm chi phí từ lợi thế quy mô lớn, công suất vượt quá, công nghệ lạc hậu, thiếu hiệu quả do quan liêu hoặc về tổ chức làm cho việc tăng trưởng quy mô không có hiệu quả; (iii) Rủi ro thay đổi môi trường pháp lý là rủi ro liên quan đến thay đổi luật pháp nhất là sự thay đổi trên quy mô toàn cầu; (iv) Rủi ro về chu kỳ kinh tế, sự biến động của các yếu tố thị trường; Các rủi ro này liên quan đến sự biến động của nền kinh tế toàn cầu và quốc gia bị ngưng trệ, dịch vụ ngân hàng sẽ bị giảm sút doanh thu, phí ngân hàng; (v) Rủi ro từ thay đổi môi trường tự nhiên làm tăng tần suất và mức độ thiệt hại do thảm họa tự nhiên, điều kiện sống, của loài người... thiệt hại của khách hàng làm họ không có khả năng trả nợ ngân hàng...
2. Đánh giá rủi ro trong NHTM khi kiểm toán báo cáo tài chính
Khi kiểm toán BCTC các rủi ro trên sẽ ảnh hưởng đến chất lượng thông tin trên BCTC - gọi là rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát. Dựa vào tính chất và mức độ tác động đến BCTC của các loại rủi ro, kiểm toán viên sẽ xem xét và nhận định về mức độ rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát. Việc xác định được mức độ rủi ro có tác động rất lớn đến hoạt động kiểm toán. Để đánh giá rủi ro, KTV cần xây dựng bảng trọng số cho từng nhân tố để đánh giá, cho điểm về mức độ rủi ro đối với từng nhân tố, sau đó tổng hợp điểm đánh giá cho toàn bộ hoạt động đó để đánh giá mức độ rủi ro tiền tàng và rủi ro kiểm soát cho từng loại hoạt động của đơn vị, bộ phận được kiểm toán.
Bảng 1
Ví dụ: Qua khảo sát, KTV đánh giá rủi ro trong huy động vốn tại NHTM ABC, Chi nhánh A và Chi nhánh B, thể hiện ở Bảng 1.
Để đánh giá mức độ rủi ro tiềm tàng, KTV thường chấm điểm cho từng nhân tố dựa trên các thông tin đã thu được để cho điểm từ 0 đến 3. Thông thường có các mức sau:
0: không có rủi ro; Từ 0 đến 1: Rủi ro thấp; Từ 1 đến 2: Rủi ro trung bình; Từ 2 đến 3: Rủi ro cao.
Tuy nhiên trên thực tế KTV có thể đưa ra khoảng dao động rủi ro chi tiết hơn đến 0,25 sau đó sẽ nhân với trọng số tương ứng của từng nhân tố để có kết quả điểm số của từng nhân tố và tổng từng loại hoạt động của đơn vị và bộ phận đó để đánh giá tổng quát về rủi ro.
Tổng điểm xác định được sẽ được so sánh với bảng điểm từ 0 đến 3 như trên để đánh giá mức độ rủi ro. Nơi nào có rủi ro cao cần tập trung kiểm toán.
Chẳng hạn, dựa trên thông tin đã thu thập được, KTV đánh giá mức độ rủi ro tiền tàng đối với hoạt động huy động vốn tại Chi nhánh A và B của NHTM ABC (theo cách trên), thể hiện ở Bảng 2.
Bảng 2
Theo ví dụ trên, KTV đã tính được mức độ rủi ro tiềm tàng đối với hoạt động huy động vốn tại Chi nhánh A và B của NHTM ABC như sau:
Tại Chi nhánh A = 2,5-> rủi ro tiềm tàng ở mức độ cao; Tại Chi nhánh B = 1,6-> rủi ro tiềm tàng ở mức độ trung bình.
Sau khi đánh giá được rủi ro, KTV sẽ trao đổi với bộ phận quản lý cấp cao để lấy ý kiesn chỉ đạo hướng cho việc xác định các nội dung cơ bản trong kế hoạch kiểm toán vì rủi ro tiền tàng và rủi ro kiểm soát là hai nhân tố sẽ quyết định khối lượng, quy mô, phạm vi, chi phí, biên chế và thời gian kiểm toán.
Nếu rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát đều cao thì KTV phải làm nhiều công việc kiểm toán với qui mô kiểm toán rộng, hay mức độ rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát có mối quan hệ tỷ lệ thuận với khối lượng công việc kiểm toán.
Trên cơ sở thực hiện quy trình nhận diện và đánh giá khoa học và đúng đắn về rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát trong kiểm toán BCTC tại NHTM sẽ giúp KTV lập kế hoạch kiểm toán phù hợp, xác định được đúng khối lượng, qui mô, phạm vi công việc kiểm soát và có kế hoạch về nhân sự, thời gian, chi phí và các phương tiện cần thiết khác cho một cuộc kiểm toán nhằm nâng cao hiệu quả của cuộc kiểm toán BCTC. Phương pháp này càng trở nên quan trọng hơn trong giai đoạn hiện nay, khi thị trường ngân hàng Việt Nam vừa trải qua thời kỳ đầy khó khăn như: tốc độ tăng trưởng tổng tài sản và tín dụng chậm lại nhưng không đi kèm với nâng cao chất lượng tín dụng (tỷ lệ nợ quá hạn, nợ xấu tăng), huy động vốn khó khăn và thanh khoản trở thành mối quan ngại sâu sắc với hệ thống ngân hàng, khả năng sinh lời của NHTM thấp, giám sát an toàn hệ thống ngân hàng của Ngân hàng Nhà nước còn bất cập, hoạt động của NHTM còn tiềm ẩn rất nhiều rủi ro.
(Theo Tạp chí KIT & KiT)

Solomicroinvestment- Tổng hợp nhiều kiểu lợi nhuận - Lãi 1,2 - 6% trong 90 ngày


I. Thông tin về site

- Công ty bao gồm một nhóm các cá nhân,  được thành lập tại quần đảo Cayman. Đối tác của công ti là một loạt các  ngành công nghiệp như:  nguyên liệu, ngân hàng, CNTT và khách sạn.



II. Các hình thức kiếm tiền với Solomi

1. Đầu tư Positions

- Giá 1 Pos 25$ lãi từ 1,2 - 6%/ngày trong vòng 90 ngày.

- Loại tiền đầu tư: LR, PZ, Egopay, STP

- Min pay 25$ 

- Dep PZ, STP rút LR thoải mái

2. Kiếm tiền từ Cycle bonus ( Ma  trận 1x2)

- Hoa hồng này nhận rất nhanh chỉ cần trong ma trận của bạn có 2 người là bạn đạt điều kiện nhận hoa hồng. 







Đặc biệt là ma trận này xoay vòng sau khi tuyến trên của bạn đạt ma trận sẽ xuống làm TUYẾN DƯỚI của bạn.

3. Kiếm tiền từ Ref bonus

Bạn kiếm được từ 2,5$ - 5$ cho tuyến dưới của bạn mua 1 POS.



4. Một số hình thức khác.

- Ngoài ra còn một số loại tiền thưởng khác. Vấn đề này sẽ được đề cập đến sau.








HƯỚNG DẪN THAM GIA



I. ĐĂNG KÍ


ĐĂNG KÍ TẠI ĐÂY




I. HƯỚNG DẪN FUN TIỀN VÀ MUA POS

1. Hướng dẫn Fun tiền

- Sau khi đăng nhập bạn chọnAdd Funds on e-Wallet



 - Nhập số tiền, chon loại tiền thanh toán => Chọn Pay Now





2. Hướng dẫn mua Pos

- ChọnPurchase Positions

- Tại mục Please select a investment category. Bạn chọn 1 loại Pos ( Giống kiểu mua mã cổ phiếu) sau đó nhập mã Pin và chọn Register Now.











PS:  Lần đầu mua POS bạn cần nạp tối thiểu 35$ ( 25$ mua Pos + 10$ phí tháng)

     - Ma trận 1x2 có được do bạn xây dựng hoặc do CÁC TUYẾN TRÊN ĐẨY XUỐNG do vậy càng đăng kí nhanh càng có lợi - càng sớm được hưởng loại hoa hồng này.

     - Kiemtien365 RCB 100% tiền mua POS.

     - Mọi thông tin sẽ được cập nhập sớm....


Chúc các bạn thành công!

     

Sunday, May 12, 2013

4 Bước kiếm tiền với like Facebook


          Hiện tại Muabanlike.com đang thu hút lượng người tham gia rất đông. Sau đây là bài viết chi tiết về hình thức kiếm tiền này cho các bạn tham khảo.



Bước 1 Đăng ký 


ĐĂNG KÍ TẠI ĐÂY




Điền các thông tin trong vùng tô màu vàng



Bước 2:Thêm website , fanpage,... của bạn ( Nếu chỉ kiếm tiền, hoặc không cần tăng Like của bạn thì bỏ qua bước này)
Chú ý



  • ở phần thứ 2 chọn thể loại bạn cần chọn cho phù hợp.

  • Tiêu đề là tiếng việt không dấu nhé







Bước 3 Kiếm coins ( Bước quan trọng để kiếm tiền)


- Coins kiếm được đổi ra tiền. 1500 Coins = 1$

Chú ý:



  • Với fb anh em phải đang ở trạng thái cá nhân chứ không phải trạng thái page nhé như vậy mới có điểm

  • Với twitter và youtobe tài khoản dùng like phải là tài khoản đã đăng ký trong phần tài khoản mạng xã hôi nhé

  • Giới thiệu người tham gia được cộng hoa hồng cả Coins lẫn $. 





Bước 4 Rút tiền


Thao tác theo các bước sau:


- Click vào số tiền bạn đang có, chọn rút tiền nhập số tiền và chọn loại tiền rút về.




PS: Thanh toán hoàn thành sau 1, đến 2 ngày. Tỉ giá 1$ = 20.000đ 








Giao dịch rút mới nhất 2$ về Bảo kim.



Chúc các bạn thành công!


Thursday, May 9, 2013

Những điểm mới trong thông tư 45 so với thông tư 203


Những điểm mới trong Thông tư 45/2013/TT-BTC về hướng dẫn chế độ quản lý, sử dụng, và trích khấu hao tài sản cố định áp dụng kể từ năm tài chính 2013
Một số điểm thay đổi mới trong nội dung thông tư này như sau:
1. Tiêu chuẩn nhận biết TSCĐ: chỉ thay đổi về giá trị của TSCĐ phải từ 30.000.000 đồng trở lên ( so với lúc trước chỉ có 10.000.000 đồng).
2. Qui định rõ hơn về các chi phí này bao gồm: Chi phí thành lập doanh nghiệp, chi phí đào tạo nhân viên, chi phí quảng cáo phát sinh trước khi thành lập doanh nghiệp, chi phí cho giai đoạn nghiên cứu, chi phí chuyển dịch địa điểm, chi phí mua để có và sử dụng các tài liệu kỹ thuật, bằng sáng chế, giấy phép chuyển giao công nghệ, nhãn hiệu thương mại, lợi thế kinh doanh không phải là tài sản cố định vô hình mà được phân bổ dần vào chi phí kinh doanh của doanh nghiệp trong thời gian tối đa không quá 3 năm theo quy định của Luật thuế TNDN
3. Trường hợp mua TSCĐ hữu hình là nhà cửa, vật kiến trúc gắn liền với quyền sử dụng đất thì giá trị quyền sử dụng đất phải xác định riêng và ghi nhận là TSCĐ vô hình nếu đáp ứng đủ tiêu chuẩn theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều này, còn TSCĐ hữu hình là nhà cửa, vật kiến trúc thì nguyên giá là giá mua thực tế phải trả cộng (+) các khoản chi phí liên quan trực tiếp đến việc đưa TSCĐ hữu hình vào sử dụng
Trường hợp sau khi mua TSCĐ hữu hình là nhà cửa, vật kiến trúc gắn liền với quyền sử dụng đất, doanh nghiệp dỡ bỏ hoặc huỷ bỏ để xây dựng mới thì giá trị quyền sử dụng đất phải xác định riêng và ghi nhận là TSCĐ vô hình nếu đáp ứng đủ tiêu chuẩn theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều này; nguyên giá của TSCĐ xây dựng mới được xác định là giá quyết toán công trình đầu tư xây dựng theo quy định tại Quy chế quản lý đầu tư và xây dựng hiện hành.
Những tài sản dỡ bỏ hoặc huỷ bỏ được xử lý hạch toán theo quy định hiện hành đối với thanh lý tài sản cố định
4. Nguyên giá tài sản cố định hữu hình do đầu tư xây dựng:
Nguyên giá TSCĐ do đầu tư xây dựng cơ bản hình thành theo phương thức giao thầu là giá quyết toán công trình xây dựng theo quy định tại Quy chế quản lý đầu tư và xây dựng hiện hành cộng (+) lệ phí trước bạ, các chi phí liên quan trực tiếp khác. Trường hợp TSCĐ do đầu tư xây dựng đã đưa vào sử dụng nhưng chưa thực hiện quyết toán thì doanh nghiệp hạch toán nguyên giá theo giá tạm tính và điều chỉnh sau khi quyết toán công trình hoàn thành.
5. Tài sản cố định hữu hình nhận góp vốn, nhận lại vốn góp:
TSCĐ nhận góp vốn, nhận lại vốn góp là giá trị do các thành viên, cổ đông sáng lập định giá nhất trí; hoặc doanh nghiệp và người góp vốn thoả thuận; hoặc do tổ chức chuyên nghiệp định giá theo quy định của pháp luật và được các thành viên, cổ đông sáng lập chấp thuận.
6. TSCĐ vô hình là quyền sử dụng đất:
TSCĐ vô hình là quyền sử dụng đất bao gồm:
+ Quyền sử dụng đất được nhà nước giao có thu tiền sử dụng đất hoặc nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất hợp pháp (bao gồm quyền sử dụng đất có thời hạn, quyền sử dụng đất không thời hạn).
+ Quyền sử dụng đất thuê trước ngày có hiệu lực của Luật Đất đai năm 2003 mà đã trả tiền thuê đất cho cả thời gian thuê hoặc đã trả trước tiền thuê đất cho nhiều năm mà thời hạn thuê đất đã được trả tiền còn lại ít nhất là năm năm và được cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Nguyên giá TSCĐ là quyền sử dụng đất được xác định là toàn bộ khoản tiền chi ra để có quyền sử dụng đất hợp pháp cộng (+) các chi phí cho đền bù giải phóng mặt bằng, san lấp mặt bằng, lệ phí trước bạ (không bao gồm các chi phí chi ra để xây dựng các công trình trên đất); hoặc là giá trị quyền sử dụng đất nhận góp vốn.
-           Quyền sử dụng đất không ghi nhận là TSCĐ vô hình gồm:
+          Quyền sử dụng đất được Nhà nước giao không thu tiền sử dụng đất.
+          Thuê đất trả tiền thuê một lần cho cả thời gian thuê (thời gian thuê đất sau ngày có hiệu lực thi hành của Luật đất đai năm 2003, không được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất) thì tiền thuê đất được phân bổ dần vào chi phí kinh doanh theo số năm thuê đất.
+          Thuê đất trả tiền thuê hàng năm thì tiền thuê đất được hạch toán vào chi phí kinh doanh trong kỳ tương ứng số tiền thuê đất trả hàng năm.
-           Đối với các loại tài sản là nhà, đất đai để bán, để kinh doanh của công ty kinh doanh bất động sản thì doanh nghiệp không được hạch toán là TSCĐ và không được trích khấu hao.

7.  Đầu tư nâng cấp, sửa chữa tài sản cố định:
7.1.      Các chi phí doanh nghiệp chi ra để đầu tư nâng cấp tài sản cố định được phản ánh tăng nguyên giá của TSCĐ đó, không được hạch toán các chi phí này vào chi phí sản xuất kinh doanh trong kỳ.
7.2.      Các chi phí sửa chữa tài sản cố định không được tính tăng nguyên giá TSCĐ mà được hạch toán trực tiếp hoặc phân bổ dần vào chi phí kinh doanh trong kỳ, nhưng tối đa không quá 3 năm.
Đối với những tài sản cố định mà việc sửa chữa có tính chu kỳ thì doanh nghiệp được trích trước chi phí sửa chữa theo dự toán vào chi phí hàng năm. Nếu số thực chi sửa chữa tài sản cố định lớn hơn số trích theo dự toán thì doanh nghiệp được tính thêm vào chi phí hợp lý số chênh lệch này. Nếu số thực chi sửa chữa tài sản cố định nhỏ hơn số đã trích thì phần chênh lệch được hạch toán giảm chi phí kinh doanh trong kỳ.
7.3.      Các chi phí liên quan đến TSCĐ vô hình phát sinh sau ghi nhận ban đầu được đánh giá một cách chắc chắn, làm tăng lợi ích kinh tế của TSCĐ vô hình so với mức hoạt động ban đầu, thì được phản ánh tăng nguyên giá TSCĐ. Các chi phí khác liên quan đến TSCĐ vô hình phát sinh sau ghi nhận ban đầu được hạch toán vào chi phí sản xuất kinh doanh
8.  Trường hợp trong hợp đồng thuê tài sản (bao gồm cả thuê hoạt động và thuê tài chính) quy định bên đi thuê có trách nhiệm sửa chữa tài sản trong thời gian thuê thì chi phí sửa chữa TSCĐ đi thuê được phép hạch toán vào chi phí hoặc phân bổ dần vào chi phí kinh doanh nhưng thời gian tối đa không quá 3 năm.
9. Nguyên tắc trích khấu hao TSCĐ:
Trường hợp TSCĐ sử dụng trong các hoạt động phúc lợi phục vụ cho người lao động của doanh nghiệp quy định tại khoản 1 Điều 9 Thông tư này có tham gia hoạt động sản xuất kinh doanh thì doanh nghiệp căn cứ vào thời gian và tính chất sử dụng các tài sản cố định này để thực hiện tính và trích khấu hao vào chi phí kinh doanh của doanh nghiệp và thông báo cho cơ quan thuế trực tiếp quản lý để theo dõi, quản lý
Trường hợp đánh giá lại giá trị TSCĐ đã hết khấu hao để góp vốn, điều chuyển khi chia tách, hợp nhất, sáp nhập thì các TSCĐ này phải được các tổ chức định giá chuyên nghiệp xác định giá trị nhưng không thấp hơn 20% nguyên giá tài sản đó. Thời điểm trích khấu hao đối với những tài sản này là thời điểm doanh nghiệp chính thức nhận bàn giao đưa tài sản vào sử dụng và thời gian trích khấu hao từ 3 đến 5 năm. Thời gian cụ thể do doanh nghiệp quyết định nhưng phải thông báo với cơ quan thuế trước khi thực hiện.
Việc trích hoặc thôi trích khấu hao TSCĐ được thực hiện bắt đầu từ ngày (theo số ngày của tháng) mà TSCĐ tăng hoặc giảm. Doanh nghiệp thực hiện hạch toán tăng, giảm TSCĐ theo quy định hiện hành về chế độ kế toán doanh nghiệp.
10.  Đối với các công trình xây dựng cơ bản hoàn thành: đưa vào sử dụng, doanh nghiệp đã hạch toán tăng TSCĐ theo giá tạm tính do chưa thực hiện quyết toán. Khi quyết toán công trình xây dựng cơ bản hoàn thành có sự chênh lệch giữa giá trị tạm tính và giá trị quyết toán, doanh nghiệp phải điều chỉnh lại nguyên giá tài sản cố định theo giá trị quyết toán đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt. Doanh nghiệp không phải điều chỉnh lại mức chi phí khấu hao đã trích kể từ thời điểm tài sản cố định hoàn thành, bàn giao đưa vào sử dụng đến thời điểm quyết toán được phê duyệt. Chi phí khấu hao sau thời điểm quyết toán được xác định trên cơ sở lấy giá trị quyết toán tài sản cố định được phê duyệt trừ (-) số đã trích khấu hao đến thời điểm phê duyệt quyết toán tài sản cố định chia (:) thời gian trích khấu hao còn lại của tài sản cố định theo quy định
11.  Xử lý đối với các tài sản cố định đã áp dụng thông tư trước ( TT 203) nay áp dụng thông tư 45, cần được xử lý như sau:
Đối với các tài sản cố định doanh nghiệp đang theo dõi, quản lý và trích khấu hao theo Thông tư số 203/2009/TT-BTC nay không đủ tiêu chuẩn về nguyên giá tài sản cố định theo quy định tại Điều 2 của Thông tư này thì giá trị còn lại của các tài sản này được phân bổ vào chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, thời gian phân bổ không quá 3 năm kể từ ngày có hiệu lực thi hành của Thông tư này.
12.   Về khung thời gian khấu hao TSCĐ: cần xem vì có sự thay đổi về thời gian tối thiểu và tối đa. Tuy nhiên chủ yếu tăng thời gian tối đa lên nhiều so với qui định cũ.
BQT WEB

Wednesday, May 8, 2013

Lộ mặt nạ sau kiểm toán: Kêu ải kêu ai!


Đã có đến 549 doanh nghiệp chênh lệch lợi nhuận sau kiểm toán năm 2012. Theo thống kê của Vietstock, hiện có tới 319 doanh nghiệp báo chênh lệch giảm, từ lãi sang lỗ hay tăng lỗ sau kiểm toán năm 2012; và cũng có 230 doanh nghiệp chênh lệch tăng hay giảm lỗ. Như vậy, con số khớp nhau về lợi nhuận sau kiểm toán thì chỉ có 123 doanh nghiệp, còn lại là chưa công bố đầy đủ báo cáo trước hoặc sau kiểm toán.

Minh An (Vietstock)


Mỗi mùa báo cáo tài chính đi qua, vấn đề chênh lệch số liệu sau kiểm toán hay những ý kiến ngoại trừ của kiểm toán viên luôn làm nhức nhối giới đầu tư và cơ quan quản lý, nhưng đến nay tình trạng này vẫn không thuyên giảm. Thậm chí còn có thêm nhiều trường hợp làm nhà đầu tư sốc nặng hơn như PVX, VID, HLC hay ACB.
Việc tăng giảm giá cổ phiếu ngoài ảnh hưởng chung của thị trường, còn phản ánh kết quả hoạt động của doanh nghiệp đó. Chẳng vì thế mà khi một báo cáo tài chính “đẹp” được công bố thì dòng tiền rót về cổ phiếu đó và ngược lại. Tuy nhiên, nhà đầu tư chớ có vội mừng, bởi kết quả kinh doanh đó có “thật” hay không thì chỉ sau khi đơn vị kiểm toán vào cuộc mới rõ ngọn ngành.
Nếu được bầu chọn doanh nghiệp gây nhiều “scandal” nhất trong năm qua có lẽ PVX sẽ lọt vào danh sách đề cử. Bởi từ quý 2/2012 doanh nghiệp này đã bắt đầu trượt dốc với mức lỗ khủng 260 tỷ đồng, nhiều nhà đầu tư đã xem PVX là “tội đồ” của thị trường chứng khoán.
Một năm sau đó, PVX lại làm nhà đầu tư choáng váng với thông tin công bố: Công ty mẹ lỗ khủng 1,222 tỷ đồng năm 2012 và càng sốc hơn khi đột ngột biến từ lãi 19 tỷ năm 2011 sang lỗ 196 tỷ đồng. Chưa dừng lại ở đó, báo cáo tài chính kiểm toán 2012 được công bố với lợi nhuận sau thuế của PVX chênh lệch tới 260 tỷ đồng, tức tăng lỗ lên 1,338 tỷ đồng. Đây là con số chênh lệch giảm lớn nhất cho đến thời điểm này.
Lúc này thì không còn từ gì để dành cho PVX. Với mức giá trên 10x từ tháng 4/2012, đến nay cổ phiếu PVX chỉ còn loanh quanh 4x. Một sự thật mà hơn một năm sau nhà đầu tư mới được biết thì có thể thấy khả năng “vẽ báo cáo tài chính” của PVX ở mức nào.
ACB cũng là ngân hàng gây nhiều tiếng tăm trong năm 2012 với sự vụ liên quan đến bầu Kiên. Tháng 7/2012, khi mọi việc liên quan đến bầu Kiên chưa vỡ lẽ, giá cổ phiếu ACB luôn trên mức 25x. Đến lúc sóng gió ập tới (gần cuối tháng 8/2012), cổ phiếu ACB bắt đầu hành trình lao dốc.
Cũng từ đây, hoạt động kinh doanh của ACB được giới đầu tư “soi” kỹ hơn. Nếu như từ năm 2008 đến 2011, ACB luôn đạt lợi nhuận trên 2,000 tỷ đồng thì năm 2012 chỉ còn vỏn vẹn 928 tỷ đồng. Tuy nhiên, đây chưa phải là con số cuối cùng. Ngay sau khi kiểm toán vào cuộc thì con số trên mất đi 144 tỷ đồng, xuống mức 784 tỷ đồng. Và lúc này cổ phiếu ACB cũng chỉ còn 15x... (Bảng 1)
 Bảng 1
Đây chỉ là những gương mặt điển hình. Theo thống kê của Vietstock thì có tới 319 doanh nghiệp báo chênh lệch giảm, từ lãi sang lỗ hay tăng lỗ sau kiểm toán; và cũng có 230 doanh nghiệp chênh lệch tăng hay giảm lỗ. Như vậy, con số khớp nhau sau kiểm toán thì chỉ có 123 doanh nghiệp, còn lại là chưa công bố đầy đủ báo cáo trước hoặc sau kiểm toán.
Đó là chưa kể 171 doanh nghiệp chênh lệch giảm doanh thu sau kiểm toán điển hình như QCG giảm tới 1,141 tỷ đồng, PVX cũng giảm 435 tỷ đồng, TS4 giảm 236 tỷ đồng… Và cũng có 113 doanh nghiệp chênh lệch tăng doanh thu sau kiểm toán, đứng đầu danh sách là TTF tăng 449 tỷ đồng, PVC tăng 272 tỷ đồng, SHB tăng 170 tỷ đồng và MPC tăng 138 tỷ đồng…
Những biến động kết quả kinh doanh này đã ảnh hưởng trực tiếp đến “túi tiền” của nhà đầu tư nhưng hiện tại vẫn chưa có giải pháp triệt để trong công tác quản lý, đòi hỏi nhà đầu tư cần cẩn trọng hơn trong việc lựa chọn cổ phiếu.
BBT: Qua bài báo này, mặc nhiên đánh giá cao vai trò của kiểm toán độc lập, góp phần nhằm phản ánh trung thực, hợp lý hơn BCTC, tăng độ tin cậy vào KTV và công ty kiểm toán, cũng thể hiện sự đòi hỏi càng cao của xã hội với chất lượng kiểm toán BCTC.