Showing posts with label Kiểm toán BCTC. Show all posts
Showing posts with label Kiểm toán BCTC. Show all posts

Sunday, July 28, 2013

Chuẩn mực quốc tế cho BCTC ngành bảo hiểm

DNBH là đơn vị có liên quan nhiều đến công chúng nên BCTC phải phù hợp với Chuẩn mực quốc tế để góp phần tạo dựng thông tin minh bạch cho thị trường.
Chuẩn mực quốc tế cho BCTC ngành bảo hiểm
Chuẩn mực quốc tế cho BCTC ngành bảo hiểm
Kinh doanh bảo hiểm (BH) giúp các tổ chức, cá nhân tham gia BH khắc phục hậu quả tài chính khi gặp tai nạn, tổn thất và các rủi ro. Tính đa dạng của đối tượng khách hàng và nhu cầu về sự an toàn không ngừng tăng lên đối với các sản phẩm BH nên ở tất cả các nước, Nhà nước phải kiểm tra, giám sát chặt chẽ và có hệ thống khuôn khổ pháp lý để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của khách hàng tham gia BH và DNBH, đồng thời để điều chỉnh, thúc đẩy hoạt động kinh doanh BH phát triển.

Trong lĩnh vực kế toán, ngay cả khi chưa có chuẩn mực kế toán (CMKT) quốc tế về BH thì các nước có thị trường BH phát triển như Mỹ, Anh, Úc... đã ban hành các CMKT áp dụng riêng cho DNBH. Cho đến tháng 3/2004, Ủy ban Chuẩn mực quốc tế (IASB) đã ban hành Chuẩn mực báo cáo tài chính (BCTC) quốc tế số 4 (IFRS 4) - “Hợp đồng BH”. IFRS 4 là chuẩn mực trung gian, tạm thời, vì còn nhiều vấn đề chưa đề cập và phải tiếp tục nghiên cứu. Do thông lệ kế toán cho các hợp đồng BH rất đa dạng và khác biệt với thông lệ kế toán của các lĩnh vực khác, nên IFRS 4 được ban hành để cải thiện ở mức độ có giới hạn thông lệ kế toán hiện hành đối với hợp đồng BH. Nội dung chủ yếu của IFRS 4 là quy định các thông tin, số liệu mà DNBH phải trình bày trên BCTC về các hợp đồng BH cho tới khi IASB ban hành tiếp trong giai đoạn 2. Trên cơ sở IFRS 4- “Hợp đồng BH”, năm 2005, Bộ Tài chính đã ban hành CMKT số 19 - Hợp đồng bảo hiểm và tháng 12/2012, Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số 232 hướng dẫn kế toán áp dụng đối với DNBH phi nhân thọ, DN tái BH và chi nhánh DNBH phi nhân thọ nước ngoài.

Trước xu thế hội nhập trong lĩnh vực bảo hiểm, để phù hợp với Chuẩn mực BCTC quốc tế và để người sử dụng BCTC có thể thấy được bức tranh toàn cảnh về hoạt động kinh doanh của DNBH, chế độ BCTC áp dụng cho các DNBH ban hành theo Thông tư số 232 đã có nhiều bổ sung, sửa đổi so với quy định trước đó, đặc biệt là các nội dung sau:

Quy định trình bày tách biệt tài sản tái BH và dự phòng nghiệp vụ BH trên bảng cân đối kế toán (là báo cáo phản ánh tình hình tài chính) của DNBH

Quy định này giúp cho việc phản ánh đầy đủ thông tin về trách nhiệm, quyền của DNBH theo quy định tại Điều 27 Luật kinh doanh BH năm 2000 là: “DNBH chịu trách nhiệm duy nhất đối với bên mua BH theo hợp đồng BH, kể cả trong trường hợp tái BH những trách nhiệm đã nhận BH”. Do đó, trong trường hợp DN nhận tái BH không hoàn thành các nghĩa vụ tái BH thì DNBH vẫn phải chịu toàn bộ trách nhiệm đối với chủ hợp đồng BH theo hợp đồng BH gốc. Vì vậy, việc trình bày tách biệt tài sản tái BH và dự phòng nghiệp vụ BH trên bảng cân đối kế toán là để phản ánh đầy đủ trách nhiệm của DNBH đối với chủ hợp đồng BH. Ngoài ra, việc trình bày tài sản tái BH là để phản ánh phần phải thu từ DN nhận tái BH. Nếu DN nhận tái BH không có khả năng thực hiện phần trách nhiệm của mình thì DN nhượng tái BH sẽ không thu hồi được phần thiệt hại thuộc trách nhiệm bồi thường của DN nhận tái BH, nhưng vẫn chịu trách nhiệm đền bù toàn bộ thiệt hại đối với chủ hợp đồng BH gốc và sẽ phải ghi nhận phần thiệt hại do không thu hồi được từ DN nhận tái BH theo hợp đồng tái BH. Quy định này khắc phục được hạn chế trong chế độ BCTC trước đây là khi trình bày trên bảng cân đối kế toán, DNBH thực hiện bù trừ các tài sản tái BH và dự phòng nghiệp vụ BH, nên không phản ánh đúng tình hình tài chính của họ. Trên thế giới, tất cả các DNBH đều ghi nhận và trình bày tách biệt khoản mục tài sản tái BH và dự phòng nghiệp vụ BH trên bảng cân đối kế toán.

Quy định các số liệu, thông tin DNBH phải thuyết minh trên BCTC

Thứ nhất, thuyết minh rõ ràng các thông tin giúp xác định và giải thích các số liệu trong BCTC của DNBH phát sinh từ các hợp đồng BH, gồm:

* Thuyết minh các chính sách kế toán của DNBH như: Phương pháp ghi nhận doanh thu, chi phí, trích lập dự phòng nghiệp vụ…, phương pháp và cách xử lý đối với doanh thu phí BH của các hợp đồng tái tục.
* Trình bày trên thuyết minh BCTC các tài sản, nợ phải trả phát sinh từ các hợp đồng BH cho từng loại hoạt động kinh doanh BH gốc, nhận tái và nhượng tái BH.
* Về doanh thu, chi phí: Để đánh giá khả năng khai thác BH gốc, khả năng nhận tái BH và kết quả hoạt động kinh doanh nhận tái và nhượng tái BH cũng như mức độ phụ thuộc của BH, DNBH phải thuyết minh các thông tin cho từng nghiệp vụ BH quan trọng theo quy định của pháp luật về kinh doanh BH.
* Thuyết minh các giả định được sử dụng có ảnh hưởng lớn đến phương pháp tính toán ghi nhận tài sản, nợ phải trả, doanh thu, chi phí phát sinh từ các hợp đồng BH và sự thay đổi của từng giả định được sử dụng có ảnh hưởng trọng yếu đến BCTC.

Thứ hai, thuyết minh các thông tin về giá trị, thời gian và biến động các luồng tiền tương lai của DNBH, gồm:
* Thuyết minh các thông tin về giá trị, thời gian và biến động các luồng tiền trong tương lai dựa trên 2 nguyên tắc cơ bản sau: (i) Cần có sự cân bằng giữa các thuyết minh mang tính định lượng và định tính để giúp người sử dụng BCTC hiểu bản chất các rủi ro có thể xảy ra và tác động tiềm tàng của chúng; (ii) Các thuyết minh cần phù hợp với nhận thức của ban giám đốc về rủi ro BH và các biện pháp của DNBH để giảm bớt các rủi ro này.
* Thuyết minh các thông tin về rủi ro BH và chính sách quản lý rủi ro của DNBH, thuyết minh tình hình bồi thường tổn thất của DNBH, gồm:

1. Thuyết minh rủi ro BH và phân tích mức độ tập trung của các rủi ro BH, cụ thể:
- Thuyết minh rủi ro BH theo từng lĩnh vực kinh doanh BH gốc, nhận tái và nhượng tái BH, theo từng loại nghiệp vụ BH và theo từng khu vực địa lý.
- Thuyết minh các thông tin về rủi ro BH có ảnh hưởng trọng yếu làm thay đổi kết quả kinh doanh và vốn chủ sở hữu của DNBH. Mối tương quan hoặc sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các loại rủi ro khác nhau và các thông tin cả rủi ro trước cũng như sau khi đã điều chỉnh bởi hoạt động nhượng tái BH.
- Phân tích mức độ tập trung của các rủi ro BH, bao gồm mô tả việc ban lãnh đạo quyết định mức độ tập trung và mô tả về tính chất chung có thể xác định đối với mỗi loại (ví dụ loại sự kiện BH, khu vực địa lý hoặc loại tiền tệ). Mức độ tập trung của các rủi ro BH có thể phát sinh từ một hợp đồng rủi ro đơn lẻ hoặc một số hợp đồng có liên quan, như hợp đồng có rủi ro thấp nhưng mức độ nghiêm trọng lớn như rủi ro động đất. Một sự cố đơn lẻ nhưng mang lại rủi ro cho DNBH theo nhiều loại hợp đồng BH khác nhau. Các thay đổi ngoài dự kiến như hành vi của bên mua BH hoặc thay đổi của thị trường tài chính làm cho chủ hợp đồng BH chọn cơ hội tốt hơn. Rủi ro về kiện tụng và thay đổi luật pháp có thể phát sinh các khoản chi phí hoặc ảnh hưởng lớn tới rất nhiều hợp đồng BH.

2. Thuyết minh về phân tích độ nhạy của các rủi ro BH, cụ thể:
- Phân tích về độ nhạy thể hiện việc lãi hoặc lỗ và vốn chủ sở hữu có thể bị ảnh hưởng nếu như có sự thay đổi của các biến số rủi ro có liên quan tại ngày lập BCTC, các phương pháp và giả định được sử dụng trong việc lập phân tích độ nhạy; các thay đổi về phương pháp và các giả định được sử dụng so với các giai đoạn trước đó.
- Thông tin định tính về độ nhạy, các thông tin về điều khoản và điều kiện của hợp đồng BH có ảnh hưởng trọng yếu đến giá trị, thời gian và tính không chắc chắn của các luồng tiền trong tương lai của DNBH.

3. Thuyết minh chính sách của DNBH để giảm thiểu các rủi ro phát sinh từ các hợp đồng BH. Theo đó, DNBH phải thuyết minh chính sách chấp nhận rủi ro khi lựa chọn và phê duyệt các rủi ro được BH, mức độ đảm bảo tính phù hợp giữa phân loại rủi ro và mức trách nhiệm BH, phương pháp định giá và quản lý rủi ro phát sinh cho cả 2 loại rủi ro chi tiết và tổng thể, các phương pháp sử dụng để hạn chế hoặc chuyển giao rủi ro như việc sử dụng các giới hạn và nhượng tái BH, các cam kết huy động vốn vay hoặc vốn góp để chi trả khi cần thiết.

4. Thuyết minh về tình hình bồi thường tổn thất của DNBH để so sánh các khoản bồi thường thực tế so với số liệu ước tính trước đây thông qua “Bảng tổng hợp số liệu về tình hình bồi thường”. Bảng này phải trình bày cho 5 năm liên tiếp để cung cấp các thông tin hữu ích nhằm xem xét, đánh giá xem DNBH có đảm bảo tính thận trọng không, đồng thời giúp người sử dụng BCTC biết được trong quá khứ cho đến năm tài chính hiện hành, DNBH có thay đổi tính thận trọng không và xu hướng thay đổi sẽ ảnh hưởng đến BCTC như thế nào.

Tóm lại, DNBH là đơn vị có liên quan nhiều đến công chúng, nên BCTC phải được lập và trình bày cho phù hợp với Chuẩn mực quốc tế về BCTC để góp phần tạo dựng thông tin minh bạch cho thị trường tài chính, giúp các DNBH Việt Nam dễ dàng hội nhập với thị trường quốc tế. Trên thực tế, thông lệ về kế toán đối với các hợp đồng BH rất đa dạng và IASB chưa đề cập trong IFRS 4. Với khuôn khổ pháp luật về kế toán, đặc biệt là CMKT số 19 về hợp đồng BH và Thông tư số 232 được ban hành trong những năm qua đã và sẽ giúp các DNBH nâng cao chất lượng BCTC, qua đó củng cố lòng tin của thị trường đối với hoạt động và sự minh bạch của các DN trong ngành này.

TS. Hà Thị Ngọc Hà, Vụ phó Vụ Chế độ kế toán và kiểm toán - Bộ Tài chính
Theo ĐTCK

Hủy niêm yết vì kiểm toán từ chối đưa ra ý kiến: 3 năm niêm yết buồn của NTB

Thị giá cổ phiếu rơi thảm từ hồi niêm yết, nhiều lần công ty vi phạm công bố thông tin...là những dấu mốc buồn cho 3 năm niêm yết của NTB.
Hủy niêm yết vì kiểm toán từ chối đưa ra ý kiến: 3 năm niêm yết buồn của NTB
Hủy niêm yết vì kiểm toán từ chối đưa ra ý kiến: 3 năm niêm yết buồn của NTB
Hôm nay, cổ phiếu NTB của Công ty cổ phần Đầu tư Xây dựng và Khai thác Công trình Giao thông 584 sẽ chính thức hủy niêm yết bắt buộc, kết thúc hơn 3 năm gắn bó với HoSE.

Hoạt động kinh doanh chính của Công ty chủ yếu tập trung vào các lĩnh vực là: kinh doanh bất động sản, xây lắp công trình dân dụng – thương mại, xây lắp các công trình giao thông và một sốhoạt động kinh doanh khác như sản xuất vật liệu xây dựng, cho thuê văn phòng, cung cấp dịch vụchung cư ...

Kết cục buồn cho cổ đông

Buồn nhất phải kể đến giá cổ phiếu rớt thảm thương. Nhiều năm ròng, cổ đông NTB không biết mùi vị của cổ tức bằng tiền. Đúng ra là có nhưng nó như miếng bánh vẽ trong bản cáo bạch treo trước mắt nhà đầu tư nhưng không với tới.

Thị giá thảm thương

3 năm niêm yết buồn của NTB (1)
Hình bên là biểu đồ giá của NTB từ khi niêm yết vào tháng 5 năm 2010. Từ mức giá chào sàn 37.000 đồng/CP, NTB đã giảm mạnh còn 2.500 đồng/CP kết thúc phiên giao dịch hôm qua, 22/7/2013.

Cổ tức bằng tiền không có

Từ khi niêm yết đến nay, NTB chưa từng trả cổ tức bằng tiền. Đúng một lần duy nhất vào tháng 6 năm 2012 công ty chốt quyền trả cổ tức bằng cổ phiếu tỷ lệ 10,5%. Tuy nhiên, miếng bánh cổ tức này cũng khất từ cuối 2011 đến năm 2012 mới chốt quyền chi trả.

Bánh vẽ

Năm nào, ĐHCĐ của NTB cũng vẽ ra kế hoạch kinh doanh huy hoàng nhưng rồi 2011, 2012 đều gánh lỗ.

Năm 2010, bản cáo bạch lên sàn được NTB nộp lên HoSE. Như mọi doanh nghiệp mới niêm yết khác thời bấy giờ, NTB nhận được nhiều sự quan tâm của nhà đầu tư khi nắm trong tay hàng loạt dự án bất động sản công ty đang hoặc phối hợp thực hiện tiêu biểu như: Khu căn hộ cao tầng Sacomreal-584; Khu dân cứ và căn hộ cao tầng 584 Tân Kiên; Khu căn hộ cao cấp Điện Biên Phủ; Khu dân cư-căn hộ cao tầng 584 Lilama plaza; Khu căn hộ cao tầng 584 Lilama SHB Building; Khu căn hộ cao tầng Lê Đức Thọ-584; Khu căn hộ cao tầng phường 16; Khu căn hộ cao cấp Thảo Điền; Dự án cao ốc khách sạn kết hợp Trung tâm Thương mại và Văn phòng cho thuê  tại 34, 36, 42 Chu Mạnh Trinh , Quận I, Tp. HCM; Khu căn hộ cao cấp Phường 13, quận Bình Thạnh; Dự án Khu căn hộ cao tầng Anpha ...

Cùng với hàng loạt dự án được nêu tên, NTB đã đưa ra kế hoạch kinh doanh cho các năm tiếp theo với tỷ lệ tăng trưởng phi mã. Bảng sau được dẫn nguồn từ bản cáo bạch niêm yết của NTB.

3 năm niêm yết buồn của NTB (2)
Trích kế hoạch kinh doanh trong bản cáo bạch chào sàn năm 2010

 
Thế nhưng, kết quả thực hiện qua các năm hoàn toàn khác. Năm 2010 công ty lãi gần 39 tỷ đồng. Sang năm 2011 công ty bắt đầu lỗ nhẹ 1,15 tỷ đồng và năm 2012 lỗ 67 tỷ đồng.

Từ khi niêm yết đến khi rời sàn, NTB lãnh án từ HoSE/UBCKNN không ít lần vì nghĩa vụ công bố thông tin. Nhìn lịch sử "lãnh án" của NTB có thể thấy: Thực chất, vấn đề công bố thông tin của NTB đã lộ diện từ lâu nhưng nhà đầu tư không hề nghĩ đến câu chuyện thảm thương về tài chính của đơn vị này:

-Ngày 22/6/2011 bị nhắc nhở lần 2 vì chậm nộp báo cáo tài chính hợp nhất quý 1 năm 2011
-Ngày 24/2/2013, NTB bị cảnh cáo trên toàn thị trường. Lý do cũng là công bố thông tin.
-Ngày 13/4/2012, UBCK xử phạt vi phạm hành chính 70 triệu đồng do vi phạm quy định về chế độ báo cáo và công bố thông tin.
-24/8/2012 bị nhắc nhở vì chậm nộp báo cáo tài chính hợp nhất quý 2/2012
-5/2/2013: Bị nhắc nhở lần 2 vì chậm công bố báo cáo tài chính quý 4/2012.
-4/4/2013 Tổng giám đốc mua cổ phiếu nhưng không công bố thông tin trước giao dịch
-2/4/2013 bị nhắc nhở chậm nộp báo cáo kiểm toán 2012
-24/4/2013 bị nhắc nhở chậm nộp báo cáo thường niên
-NTB bị tạm ngừng giao dịch kể từ ngày 07/05/2013 do thua lỗ 2 năm liên tiếp.
-NTB bị hủy niêm yết từ 23/7/2013

Lộ diện vấn đề từ kiểm toán 2012

Nếu xét trên vốn điều lệ gần 400 tỷ thì mức lỗ của NTB chưa hẳn đã khiến công ty lao đao nhưng ý kiến kiểm toán đã cho thấy hoạt động kinh doanh của NTB bộc lộ nhiều vấn đề. Một số điểm mấu chốt khiến kiểm toán hạn chế phạm vi kiểm toán phải nhắc đến như:

-Năm 2012 công ty ký hợp đồng xây dựng cao ốc thương mại-văn phòng tại 158 Võ Văn Tần với tổng trị giá 648 tỷ đồng. Công ty đồng thời ký hợp đồng với nhà thầu phụ để thực hiện dự án. Tại thời điểm kiểm toán, công trình gần như chưa triển khai nhưng công ty đã thanh toán 674,5 tỷ đồng, vượt giá trị đã ký với chủ đầu tư.

-Tại ngày 31/12/2012, một số khoản phải thu, phải trả và tiền gửi ngân hàng chưa được đối chiếu. Bằng thủ tục kiểm toán bổ sung và thay thế, kiểm toán cũng không có  những bằng chứng để đưa ra nhận xét về các khoản trên. Kiểm toán chưa thu thập được xác nhận từ các bên thứ 3 như sau: Tiền gửi ngân hàng 77,27%, tương đương 154 triệu đồng; tạm ứng 100% tương đương 34 tỷ đồng; phải thu khác 100% tương ứng 530 tỷ đồng; phải thu khách hàng 99,74% tương ứng 51 tỷ đồng; người mua trả tiền trước 100% tương ứng 343 tỷ đồng…
Đơn vị kiểm toán lưu ý thêm, tại thời điểm kết thúc năm 2012, một số dự án mang thế chấp tại ngân hàng nhưng công ty đang không thực hiện được nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi theo cam kết tại hợp đồng tín dụng. Đến thời điểm khóa sổ các món vay thuộc dự án này đã quá hạn 246 tỷ đồng, việc các dự án này có bị giải chấp hay không sẽ phụ thuộc vào các tổ chức tín dụng.
Vậy là, nhìn lại 3 năm niêm yết của NTB có thể thấy: Nhà đầu tư sốc từ khi HoSE quyết định hủy niêm yết cổ phiếu NTB do BCTC kiểm toán năm 2012 đã lộ diện quá nhiều vấn đề về doanh nghiệp này. Lịch sử những lần bị nhắc nhở, cảnh cáo cho thấy công ty không ít lần vi phạm nghĩa vụ công bố thông tin. Kết cục buồn cho cổ đông khi giá cổ phiếu chỉ còn vài nghìn đồng và giờ đây, khi bị hủy niêm yết cũng không biết quyền lợi sau đó là thế nào.

Nguyễn Thanh
Theo Trí Thức Trẻ

Wednesday, July 17, 2013

5 lưu ý khi đọc báo cáo tài chính bán niên


NĐT cần phải lưu ý một số vấn đề cơ bản khi xem xét các BCTC bán niên năm nay, để có thể hiểu rõ về “sức khỏe” tài chính của DN đằng sau những con số doanh thu, lợi nhuận đơn thuần.
 Vũ Xuân Biên, TP Kiểm toán 2,
Hãng kiểm toán AASC

Dưới sức ép minh bạch thông tin trên thị trường chứng khoán từ nhiều phía, các DN niêm yết đã ý thức được trách nhiệm trong việc lập báo cáo tài chính (BCTC) một cách trung thực, rõ ràng hơn.
Tuy nhiên, trong bối cảnh kinh doanh đầy khó khăn, nhiều DN vẫn có xu hướng “làm đẹp” BCTC để làm hài lòng cổ đông, NĐT. Vì vậy, NĐT cần phải lưu ý một số vấn đề cơ bản khi xem xét các BCTC bán niên năm nay, để có thể hiểu rõ về “sức khỏe” tài chính của DN đằng sau những con số doanh thu, lợi nhuận đơn thuần.
1. Khi đọc BCTC, NĐT cần đưa ra được sự so sánh về lợi nhuận của DN trong 6 tháng đầu năm nay với cùng kỳ các năm trước, để xem xét có sự biến động lớn hay không, cũng như nguyên nhân của những biến động này.
2. Cần chú ý hàng tồn kho và nợ xấu. Hàng tồn kho và nợ là các khoản mục mang tính chất trọng yếu trên BCTC. Trong tình hình kinh tế khó khăn, sức cầu hàng hóa giảm sút, lượng hàng tồn kho của DN tăng cao, đặc biệt là đối với các DN ngành xây dựng, kinh doanh bất động sản, sản xuất công nghiệp. Hàng tồn kho nhiều, chưa có đầu ra, nguồn vốn sản xuất hạn chế nên sản xuất - kinh doanh của DN cũng bị ngưng trệ. Thậm chí, nhiều DN bán được hàng nhưng không thu được tiền, làm gia tăng nợ xấu. Trong tình hình kinh doanh không thuận lợi, DN có thể không trích lập dự phòng đầy đủ với các khoản nợ xấu, hàng tồn kho.
NĐT cũng cần chú ý đến doanh thu và các khoản vay. Doanh thu ổn định hoặc tăng đều cho thấy DN vẫn duy trì được thị phần của mình. Ngoài con số về các khoản vay trên BCTC, NĐT cần quan tâm đến lãi suất vay của DN để đặt vào sự so sánh với tăng giảm của doanh thu và nợ phải thu.
3. NĐT cần xem xét kỹ những trường hợp DN ghi nhận lãi, nhưng lưu chuyển tiền từ hoạt động kinh doanh âm. Thực chất, có nhiều DN bán được hàng, nhưng không thu được tiền, làm gia tăng nợ xấu.
4. Ngoài việc giấu nợ xấu, hàng tồn kho, DN có thể áp dụng nhiều thủ thuật khác để tạo ra các khoản lãi ảo cho mình. NĐT cần xem xét kỹ thuyết minh về chính sách kế toán, tìm hiểu về nguyên nhân cũng như tác động của việc thay đổi của chính sách kế toán (nếu có) của DN đối với con số chi phí, doanh thu, lợi nhuận. Nếu thay đổi do chính sách lương, thưởng thì không sao, nhưng nếu do bất đồng trong quan điểm về tuân thủ chuẩn mực kế toán, tài chính thì đây là vấn đề cần lưu tâm.
5. NĐT cũng nên xem xét công ty kiểm toán thực hiện soát xét BCTC có uy tín trên thị trường hay không, kinh nghiệm và đạo đức nghề nghiệp của kiểm toán viên thực hiện soát xét báo cáo. Nhận diện được các vấn đề này, NĐT cũng sẽ đánh giá được phần nào độ tin cậy của BCTC soát xét.
Đối với việc soát xét BCTC bán niên, kiểm toán viên thường bị hạn chế về mặt thời gian, điều kiện không giống với công việc kiểm toán BCTC năm. Do đó, việc tìm ra các vấn đề trọng yếu khi soát xét là thách thức lớn đối với kiểm toán viên, đòi hỏi kiểm toán viên phải có sự xét đoán, nghiệp vụ chuyên môn cao.
Hiện nay, nhiều DN còn chưa có hiểu biết đầy đủ về công việc soát xét BCTC, nên gây khó khăn cho kiểm toán viên khi thực hiện soát xét cũng như thống nhất ý kiến kiểm toán, dẫn tới báo cáo soát xét chậm phát hành. Trong một số trường hợp, việc không thống nhất được ý kiến giữa DN kiểm toán và kiểm toán viên có thể dẫn đến việc khó phát hành được báo cáo kiểm toán.
Để công việc soát xét có thể tiến hành thuận lợi, có thể cung cấp cho cổ đông, NĐT một bản BCTC bán niên sau soát xét chính xác, trung thực về tình hình tài chính của DN, các DN niêm yết nên ký hợp đồng kiểm toán nhiều năm liền với một công ty kiểm toán. Việc này giúp cho kiểm toán viên có sự hiểu biết rõ ràng về DN, công việc soát xét nhờ đó cũng trở nên nhanh và hiệu quả hơn. Ngoài ra, với sự gắn kết chặt chẽ, đồng hành cùng DN, công ty kiểm toán sẽ là người tư vấn chính xác và kịp thời nhất cho DN. Các vấn đề vướng mắc DN cần trao đổi ngay với kiểm toán viên để đưa ra được các xử lý kế toán phù hợp, điều đó sẽ giảm thiểu sự chênh lệch số liệu trước và sau kiểm toán.
(Theo ĐTCK)

Monday, May 13, 2013

Đánh giá rủi ro trong ngân hàng thương mại khi kiểm toán báo cáo tài chính


Bộ Tài chính vừa ban hành Hệ thống Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam (VSA) mới áp dụng từ 01/01/2014. Phương pháp luận kiểm toán trong VSA mới là “Đánh giá rủi ro và kiểm tra hệ thống” thay thế cho phương pháp chọn mẫu trước đây. BBT trích đăng bài viết dưới đây của TS. Phan Tiến Đạt để các độc giả và hội viên tham khảo.
TS. Phạm Tiến Đạt

Rủi ro được hiểu là những biến cố có thể xảy ra nhưng không lường trước được. Khi kiểm toán Báo cáo tài chính, việc nhận diện, đánh giá đúng về khả năng tồn tại, mức độ trọng yếu của rủi ro do gian lận, sai sót sẽ giúp xác định đúng đối tượng, phạm vi, nội dung kiểm toán, góp phần nâng cao hiệu quả và chất lượng kiểm toán.
Mục tiêu của kiểm toán là kiểm tra và xác nhận mức độ tin cậy của các thông tin liên quan đến BCTC để đưa ra ý kiến kiểm toán phù hợp, kiểm toán viên (KTV) cần phải phát hiện ra sai phạm, đặc biệt là những sai phạm trọng yếu. Việc nhận diện, đánh giá đúng các loại rủi ro là công việc cần thiết và bắt buộc đối với mọi cuộc kiểm toán.
Trong kiểm toán BCTC ngân hàng thương mại (NHTM), mục tiêu của kiểm toán cũng như vậy. Cuộc kiểm toán NHTM dù được thực hiện bởi tổ chức Kiểm toán Nhà nước, kiểm toán độc lập hay kiểm toán nội bộ, KTV cần phải đánh giá các loại rủi ro trong hệ thống của NHTM, bao gồm rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát.
1.       Nhận diện các loại rủi ro
NHTM cũng giống như các tổ chức kinh doanh khác, hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận nhưng là tổ chức đặc biệt kinh doanh tiền tệ, bằng cách thu hút vốn tiền tệ trong xã hội để cho vay. Hoạt động chính của NHTM là: huy động vốn; sử dụng vốn và thực hiện các dịch vụ trung gian như thu hộ, chi hộ khách hàng có tài khoản tiền gửi tại ngân hàng; dịch vụ chuyển khoản ở cùng một ngân hàng hay ở hai ngân hàng khác nhau; dịch vụ tư vấn tài chính cho khách hàng, dịch vụ giữ hộ chứng từ, vật quý giá, dịch vụ chi lương cho các doanh nghiệp có nhu cầu; dịch vụ khấu trừ tự động…
Ngân hàng là một trung gian tài chính, nên có thể “hứng chịu” rủi ro đến từ hai phía. Để nhận biết rủi ro trong ngân hàng cần quan sát và phân tích các hoạt động mà ngân hàng đang thực hiện. Hoạt động ngân hàng có đặc điểm như sau:
-          Đại bộ phận tiền vốn mà ngân hàng sử dụng trong kinh doanh không phải là vốn của ngân hàng mà được hình thành từ nhiều nguồn khác  như tiền gửi của các tổ chức, cá nhân. Ngân hàng nhận được nhiều hay ít tiền gửi đều ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động của ngân hàng. Rủi ro có thể phát sinh từ sự hình thành các nguồn vốn ấy.
-          Việc kiểm soát và quản lý nguồn vốn thường vượt khỏi tầm quản lý của ngân hàng do tiền đã chuyển cho khách hàng sử dụng. Khả năng thu hồi vốn của ngân hàng không chỉ phụ thuộc vào chính ngân hàng mà chủ yếu phụ thuộc vào khách hàng. Đặc trưng này chứa đựng nhiều rủi ro ngân hàng.
-          Kinh doanh ngân hàng chịu sự giám sát chặt chẽ của cơ quan Nhà nước nên gây nên tâm lý thụ động hoặc ỷ lại của ngân hàng, hoặc “đơn giản hóa”, bỏ qua các vấn đề cần được quan tâm.Chính điều này tiềm ẩn rủi ro khó lường cho ngân hàng.
-          Rủi ro tiềm tàng trong NHTM gồm rủi ro có nguồn gốc nội tại và rủi ro về mặt hệ thống.
Rủi ro có nguồn gốc nội tại như: (i) Rủi ro tín dụng xảy ra khi khách hàng không hoàn trả được nợ đúng hạn hoặc không trả nợ cho ngân hàng. Khả năng này xuất hiện do khách hàng sử dụng vốn không hiệu quả hoặc không có khả năng trả nợ, hoặc do khách hàng không muốn trả nợ. Nguyên nhân khác là do việc thẩm định dự án của chính ngân hàng không chuẩn xác, chính sách tín dụng không hợp lý, không thực hiện tốt khâu kiểm soát trong quá trình cho vay; (ii) Rủi ro thanh khoản xảy ra khi thị trường cấp thay đổi gây khó khăn cho ngân hàng trong việc chuyển đổi các tài sản thành tiền để đáp ứng nhu cầu chi trả. Khả năng này xảy ra khi chi phí giao dịch tăng, hoặc thời gian giao dịch bị kéo dài. Tổn thất mà ngân hàng phải gánh chịu là chi phí phát sinh do phải tìm kiếm các nguồn chi trả khác; (iii) Rủi ro lãi suất xảy ra khi biến động lãi suất thị trường gây tổn thất cho ngân hàng. Rủi ro này xuất hiện trong trường hợp lãi suất của thị trường tăng lên, khi đó, các khoản vay và đầu tư của ngân hàng sẽ sụt giảm giá trị và ngân hàng sẽ bị tổn thất. Trường hợp khác của rủi ro lãi suất là khi lãi suất thị trường giảm, làm cho ngân hàng phải chấp nhận đầu tư và cho vay các khoản tiền huy động với lãi suất cao vào các tài sản với mức sinh lời thấp; (iv) Rủi ro hối đoái là khả năng xảy ra tổn thất khi tỷ giá hối đoái thay đổi vượt quá dự tính; (v) Rủi ro vỡ nợ  là rủi ro khi ngân hàng không đủ vốn chủ sở hữu để bù đắp cho sự sụt giảm đột ngột trong giá trị tài sản do hậu quả của các loại rủi ro khác, thiếu kinh nghiệm quản lý vĩ mô, do sự suy thoái của nền kinh tế, tỷ trọng huy động tiền gửi nhỏ, chủ yếu dựa vào các khoản vay, sự gia tăng các vụ vỡ nợ trong danh mục cho vay của các khách hàng

Rủi ro về mặt hệ thống như: (i) Rủi ro lạm phát là rủi ro ảnh hưởng đến các hoạt động của NHTM do lạm phát tăng cao như khả năng thanh khoản bị suy giảm, khó huy động vốn, hoạt động tín dụng bị kiềm chế và tiềm ẩn nhiều rủi ro, lợi nhuận giảm sút... Lạm phát tăng cao sẽ làm suy yếu, thậm chí phá vỡ thị trường vốn, ảnh hưởng lớn đến hoạt động của NHTM; (ii) Rủi ro công nghệ xảy ra nhưng không tạo được sự tiết kiệm chi phí từ lợi thế quy mô lớn, công suất vượt quá, công nghệ lạc hậu, thiếu hiệu quả do quan liêu hoặc về tổ chức làm cho việc tăng trưởng quy mô không có hiệu quả; (iii) Rủi ro thay đổi môi trường pháp lý là rủi ro liên quan đến thay đổi luật pháp nhất là sự thay đổi trên quy mô toàn cầu; (iv) Rủi ro về chu kỳ kinh tế, sự biến động của các yếu tố thị trường; Các rủi ro này liên quan đến sự biến động của nền kinh tế toàn cầu và quốc gia bị ngưng trệ, dịch vụ ngân hàng sẽ bị giảm sút doanh thu, phí ngân hàng; (v) Rủi ro từ thay đổi môi trường tự nhiên làm tăng tần suất và mức độ thiệt hại do thảm họa tự nhiên, điều kiện sống, của loài người... thiệt hại của khách hàng làm họ không có khả năng trả nợ ngân hàng...
2. Đánh giá rủi ro trong NHTM khi kiểm toán báo cáo tài chính
Khi kiểm toán BCTC các rủi ro trên sẽ ảnh hưởng đến chất lượng thông tin trên BCTC - gọi là rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát. Dựa vào tính chất và mức độ tác động đến BCTC của các loại rủi ro, kiểm toán viên sẽ xem xét và nhận định về mức độ rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát. Việc xác định được mức độ rủi ro có tác động rất lớn đến hoạt động kiểm toán. Để đánh giá rủi ro, KTV cần xây dựng bảng trọng số cho từng nhân tố để đánh giá, cho điểm về mức độ rủi ro đối với từng nhân tố, sau đó tổng hợp điểm đánh giá cho toàn bộ hoạt động đó để đánh giá mức độ rủi ro tiền tàng và rủi ro kiểm soát cho từng loại hoạt động của đơn vị, bộ phận được kiểm toán.
Bảng 1
Ví dụ: Qua khảo sát, KTV đánh giá rủi ro trong huy động vốn tại NHTM ABC, Chi nhánh A và Chi nhánh B, thể hiện ở Bảng 1.
Để đánh giá mức độ rủi ro tiềm tàng, KTV thường chấm điểm cho từng nhân tố dựa trên các thông tin đã thu được để cho điểm từ 0 đến 3. Thông thường có các mức sau:
0: không có rủi ro; Từ 0 đến 1: Rủi ro thấp; Từ 1 đến 2: Rủi ro trung bình; Từ 2 đến 3: Rủi ro cao.
Tuy nhiên trên thực tế KTV có thể đưa ra khoảng dao động rủi ro chi tiết hơn đến 0,25 sau đó sẽ nhân với trọng số tương ứng của từng nhân tố để có kết quả điểm số của từng nhân tố và tổng từng loại hoạt động của đơn vị và bộ phận đó để đánh giá tổng quát về rủi ro.
Tổng điểm xác định được sẽ được so sánh với bảng điểm từ 0 đến 3 như trên để đánh giá mức độ rủi ro. Nơi nào có rủi ro cao cần tập trung kiểm toán.
Chẳng hạn, dựa trên thông tin đã thu thập được, KTV đánh giá mức độ rủi ro tiền tàng đối với hoạt động huy động vốn tại Chi nhánh A và B của NHTM ABC (theo cách trên), thể hiện ở Bảng 2.
Bảng 2
Theo ví dụ trên, KTV đã tính được mức độ rủi ro tiềm tàng đối với hoạt động huy động vốn tại Chi nhánh A và B của NHTM ABC như sau:
Tại Chi nhánh A = 2,5-> rủi ro tiềm tàng ở mức độ cao; Tại Chi nhánh B = 1,6-> rủi ro tiềm tàng ở mức độ trung bình.
Sau khi đánh giá được rủi ro, KTV sẽ trao đổi với bộ phận quản lý cấp cao để lấy ý kiesn chỉ đạo hướng cho việc xác định các nội dung cơ bản trong kế hoạch kiểm toán vì rủi ro tiền tàng và rủi ro kiểm soát là hai nhân tố sẽ quyết định khối lượng, quy mô, phạm vi, chi phí, biên chế và thời gian kiểm toán.
Nếu rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát đều cao thì KTV phải làm nhiều công việc kiểm toán với qui mô kiểm toán rộng, hay mức độ rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát có mối quan hệ tỷ lệ thuận với khối lượng công việc kiểm toán.
Trên cơ sở thực hiện quy trình nhận diện và đánh giá khoa học và đúng đắn về rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát trong kiểm toán BCTC tại NHTM sẽ giúp KTV lập kế hoạch kiểm toán phù hợp, xác định được đúng khối lượng, qui mô, phạm vi công việc kiểm soát và có kế hoạch về nhân sự, thời gian, chi phí và các phương tiện cần thiết khác cho một cuộc kiểm toán nhằm nâng cao hiệu quả của cuộc kiểm toán BCTC. Phương pháp này càng trở nên quan trọng hơn trong giai đoạn hiện nay, khi thị trường ngân hàng Việt Nam vừa trải qua thời kỳ đầy khó khăn như: tốc độ tăng trưởng tổng tài sản và tín dụng chậm lại nhưng không đi kèm với nâng cao chất lượng tín dụng (tỷ lệ nợ quá hạn, nợ xấu tăng), huy động vốn khó khăn và thanh khoản trở thành mối quan ngại sâu sắc với hệ thống ngân hàng, khả năng sinh lời của NHTM thấp, giám sát an toàn hệ thống ngân hàng của Ngân hàng Nhà nước còn bất cập, hoạt động của NHTM còn tiềm ẩn rất nhiều rủi ro.
(Theo Tạp chí KIT & KiT)