Wednesday, March 20, 2013

Báo cáo kiểm toán độc lập - Yêu cầu luôn thay đổi để đáp ứng nhu cầu thông tin của người sử dụng

Như bạn đọc đã biết, theo ủy quyền của Bộ Tài chính, từ năm 2009 đến năm 2012, Hội Kiểm toán viên hành nghề Việt Nam (VACPA) đã tổ chức nghiên cứu, soạn thảo để trình Bộ Tài chính ban hành lại 37 Chuẩn mực kiểm toán (“CMKiT”)Việt Nam, thay thế cho các CMKiT hiện hành. Dự thảo các CMKiT (ban hành lại) được xây dựng trên cơ sở các CMKiT quốc tế có hiệu lực từ 15/12/2009 và đã được VACPA trình Bộ Tài chính đầu quý 2/2012. Dự kiến, các CMKiT này (trong đó có CMKiT số 700 – “Báo cáo kiểm toán về BCTC”) sẽ được Bộ Tài chính chính thức ban hành lại đầu năm 2013 và áp dụng cho các cuộc kiểm toán BCTC có năm tài chính kết thúc vào 31/12/2013. Theo dự thảo mẫu BCKT này đã có nhiều điểm thay đổi, khác biệt với mẫu BCKT hiện hành, như có 2 phần: BCKT về BCTC, BC theo yêu cầu khác của pháp luật; và ý kiến kiểm toán loại nào thì phải có cơ sở cho ý kiến kiểm toán loại đó…Trong khi CMKiT Việt Nam (CMKiT 700 có nhiều khác biệt như vậy) còn chưa được ban hành, mới đây, VACPA đã nhận được thông tin về Dự án sửa đổi CMKiT quốc tế số 700 trên website của Liên đoàn Kế toán quốc tế (IFAC). Do đó mới có tình trạng, CMKiT 700 của Việt Nam chưa ban hành lại đã bị tụt hậu so với CMKiT quốc tế sắp ban hành.
Ngày 21/6/2012, Ủy ban Chuẩn mực kiểm toán và dịch vụ đảm bảo (IAASB) của IFAC đã công bố Thư mời tham gia ý kiến về việc sửa đổi mẫu Báo cáo kiểm toán (“BCKT”) của kiểm toán viên độc lập (“KTV”). Theo kế hoạch, sau khi hoàn thành việc lấy ý kiến, IAASB sẽ xây dựng và công bố dự thảo CMKiT sửa đổi vào tháng 6/2013, tiếp tục hoàn thiện và chính thức ban hành CMKiT sửa đổi vào tháng 6/2014. Trong Thư mời tham gia ý kiến, câu hỏi lớn nhất mà IAASB đặt ra với những người quan tâm là “Liệu những thay đổi dự kiến đối với BCKT có đáp ứng được yêu cầu của người sử dụng về tính minh bạch của BCTC và cuộc kiểm toán, cũng như cung cấp những giá trị mà người sử dụng đang tìm kiếm hay không?”
Từ trước đến nay, BCKT vẫn được coi là phương tiện trao đổi thông tin chính thức chủ yếu giữa kiểm toán viên và người sử dụng BCTC/BCKT. Theo quy định của CMKiT quốc tế cũng như CMKiT Việt Nam, để đảm bảo tính dễ hiểu, BCKT phải được trình bày ngắn gọn, rõ ràng theo đúng mẫu quy định, nhất quán cả về tiêu đề và thứ tự các mục/nội dung trong BCKT. Các thông tin trong BCKT phải bao gồm: đối tượng của cuộc kiểm toán, thành phần của BCTC được kiểm toán, tóm tắt công việc của KTV, nêu tên CMKiT áp dụng (quốc tế hoặc Việt Nam), trách nhiệm của Ban Giám đốc đơn vị và của KTV…, và cuối cùng là ý kiến của KTV về BCTC được kiểm toán. Mẫu BCKT này đã chứng tỏ nhiều ưu điểm và được sử dụng phổ biến ở nhiều quốc gia, qua nhiều thập kỷ.
Tuy nhiên, cùng với sự phát triển và thay đổi không ngừng của xã hội, biến động “chóng mặt” của nền kinh tế, đặc biệt là sự xuất hiện ngày càng nhiều các giao dịch kinh tế phức tạp, dưới nhiều hình thức…, theo đó, việc lập và trình bày BCTC cũng ngày càng đặt ra nhiều yêu cầu hơn, chi tiết hơn, chặt chẽ hơn. Đồng thời, người sử dụng BCTC và BCKT cũng mong muốn biết được thông tin cụ thể và đầy đủ hơn về cuộc kiểm toán, muốn KTV diễn giải và đưa ra ý kiến về nhiều khía cạnh trong thông tin tài chính của đơn vị, thay vì chỉ giới hạn là xác nhận sự “trung thực và hợp lý” của BCTC được kiểm toán. Do đó, IAASB đánh giá, cần thiết phải tiếp tục thay đổi mẫu BCKT của KTV độc lập. Chất lượng của một cuộc kiểm toán chỉ được khẳng định và kiểm chứng bằng một sản phẩm đầu ra duy nhất là BCKT với đầy đủ thông tin cần thiết đáp ứng nhu cầu của người sử dụng. BCKT phải thể hiện được những công việc mà KTV đã làm và làm nổi bật những vấn đề chính mà KTV đã phát hiện qua cuộc kiểm toán đó.
Năm nội dung thay đổi quan trọng trong mẫu BCKT mà IAASB tin rằng các thay đổi này là cần thiết và có thể áp dụng rộng rãi ở các nước trên thế giới, bao gồm:
(1)     Bổ sung thêm đoạn với tiêu đề “Bình luận/Nhận xét của KTV” vào BCKT để nhấn mạnh các vấn đề mà theo xét đoán của KTV, đó là các vấn đề quan trọng nhất để giúp người sử dụng hiểu rõ về BCTC được kiểm toán, hoặc về cuộc kiểm toán. Đoạn này phải là yêu cầu bắt buộc đối với các BCKT đơn vị có lợi ích công chúng, và có thể vận dụng để áp dụng trong BCKT cho các đơn vị khác.
(2)     KTV phải đưa ra kết luận về giả định hoạt động liên tục mà Ban Giám đốc đơn vị sử dụng để lập BCTC, đồng thời, KTV phải nêu rõ liệu KTV có nhận thấy (hay không nhận thấy) bất kỳ yếu tố không chắc chắn trọng yếu nào liên quan đến giả định hoạt động liên tục hay không.
(3)     KTV phải trình bày về bất kỳ điểm không nhất quán trọng yếu nào giữa BCTC được kiểm toán và các thông tin khác mà KTV nhận thấy khi đọc các thông tin khác, đồng thời, xác định rõ thông tin khác mà KTV đã đọc.
(4)     Đoạn “Ý kiến kiểm toán” và các thông tin đặc biệt của đơn vị được kiểm toán phải được trình bày ở vị trí nổi bật trong BCKT (ví dụ, ngay ở phần mở đầu của BCKT).
(5)     Các thông tin khác về việc thực hiện cuộc kiểm toán và làm rõ trách nhiệm của KTV, Ban Giám đốc và Ban quản trị đơn vị được kiểm toán.

Việc sửa đổi CMKiT quốc tế 700 thực sự là cần thiết và cấp bách trong giai đoạn hiện nay và chắc chắn IAASB sẽ hoàn thành công việc này theo đúng kế hoạch đã định. Điều này cũng đặt ra thách thức không nhỏ cho Việt Nam, khi mà CMKiT Việt Nam số 700 dự kiến được ban hành lại đầu năm 2013 đã thể hiện “độ trễ” so với CMKiT quốc tế số 700 sửa đổi (sẽ được ban hành lại 2014). Điều đó đòi hỏi việc cập nhật và ban hành CMKiT của Việt Nam phải có giải pháp nhanh, nhạy hơn hiện nay.
Thực tế tại Việt Nam, khoảng thời gian từ 2001 đến 2005 là giai đoạn Bộ Tài chính liên tục ban hành các CMKiT Việt Nam theo các đợt. Sau đó, từ năm 2006 đến nay đã là một “khoảng lặng” khá dài khi không có thêm CMKiT nào được ban hành mới hoặc sửa đổi, cập nhật. Cập nhật các CMKiT là một công việc đòi hỏi sự đầu tư lớn về thời gian, nguồn lực, do đó, khó có thể đòi hỏi các CMKiT của Việt Nam phải thay đổi ngay để bắt kịp với yêu cầu của quốc tế. Tuy nhiên, giải pháp trong ngắn hạn mà Bộ Tài chính (Ủy ban chứng khoán Nhà nước) có thể xem xét, đó là khi nghiên cứu ban hành các quy định về kiểm toán tổ chức niêm yết, tổ chức phát hành, tổ chức kinh doanh chứng khoán, Bộ Tài chính (Ủy ban chứng khoán Nhà nước) có thể đặt ra các quy định đặc thù và yêu cầu thông tin chi tiết hơn đối với Báo cáo kiểm toán. Ví dụ, quy định Báo cáo kiểm toán về báo cáo tài chính của các tổ chức nói trên phải có thêm đoạn nhấn mạnh các vấn đề mà theo xét đoán của KTV, đó là các vấn đề quan trọng nhất để giúp người sử dụng hiểu rõ về BCTC được kiểm toán, hoặc về cuộc kiểm toán, và có đoạn nhận xét của KTV về giả định hoạt động liên tục của đơn vị được kiểm toán./.
(BBT: Dựa trên bài viết này, Báo Đầu tư Chứng khoán đã có bài đăng trên số báo ngày thứ 2-4/3/2013)
Trần Thanh Thảo – Phó Trưởng văn phòng VACPA Hà Nội
Thư ký Ban nghiên cứu, cập nhật Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam     

Adsprofitreward - Thông báo về việc gia hạn gói Free










         Adsprofitreward cho  chơi miễn phí 60 ngày tuy nhiên bạn cần lưu ý đến ngày khoảng ngày 29, 30 bạn cần gia hạn gói Free để tiếp tục tham gia miễn phí  30 ngày nữa. Nếu không gia hạn tài khoản của bạn sẽ bị reset về 0 và coi như công sức làm việc trong 1 tháng của bạn sẽ trở thành con số không. 


       Các thực hiện như hình dưới. Chọn chức năng RENEW





 

Lưu ý: Khi chơi Free đến ngày 29 hoặc 30 là phải Renew để tránh bị Reset số Point kiếm được.

Tuesday, March 19, 2013

Adsprofitreward - Hướng dẫn mua VIP





Để mua Bids ( Mua xong cần chuyển thành VIP mới sinh lãi) bạn vào mục số 3 Pruchase như hình dưới.




Để có thể mua được bạn cần Dep tiền vào trước. Nhập số tiền và chọn loại tiền sau đó tiến hành thanh toán.











Sau khi Dep tiền vào tiến hành mua BIDS như hình dưới.



Cập nhập thông tin: Từ ngày 15.3.2013 Sau khi mua BIDS bạn cần "Cho đi" Bids cho thành viên tuyến dưới  thì số Bids vừa mua mới chuyển thành VIP. Vậy cho đi mình có mất gì không? Và người được nhận sẽ được gì?. Câu trả lời là cho Bids đi mình không mất gì. Còn người nhận sẽ dùng Bids đó để tham gia một số chương trình của Adsprofitreward.  Phần này sẽ được cập nhập sau.

Cách cho đi Bids như sau:

Chọn 1 thành viên để cho Bids. Bên dưới tôi chọn thành viên " "kiemtien13" Nhập số Bids cần cho. Chọn Give Bids là xong.







PS: Nếu bạn không có thành viên nào bên dưới hãy tạo thêm 1 tài khoản để cho đi Bids có như vậy số Bids bạn mua mới chuyển thành VIP và lợi nhuận được sinh ra từ đó. 


Lưu ý: Khi tạo thêm 1 tài khoản cần Reset model và xóa lịch sử giao dịch web để tránh bị khóa tài khoản do trùng IP. Mọi chi tiết có thể liên hệ 0947.104.223 để được hướng dẫn chi tiết.



Monday, March 18, 2013

Kinh nghiệm lần đầu tiên áp dụng Chuẩn mực lập Báo cáo tài chính quốc tế (IFRSs)


BBT: Nhân dịp Bộ Tài chính tổ chức đào tạo về IFRS (đợt 2 từ ngày 11 đến ngày 13/03/2013 - xem tin ở mục Đào tạo) - BBT đăng bài này để bạn đọc tham khảo.
Áp dụng chuẩn mực Lập Báo cáo tài chính (BCTC) quốc tế (International Financial Reporting Standards - IFRS) là điều kiện để đảm bảo các doanh nghiệp và tổ chức trên toàn thế giới áp dụng thống nhất  các nguyên tắc kế toán trong công tác lập BCTC.
TS. Trần Mạnh Dũng (CPA) – Đại học KTQD
Ths. Đào Mạnh Huy - Đại học Lao động Xã hội
Th.s. Nguyễn Thị Thanh Diệp – Đại học KTQD

IFRS được biên soạn theo định hướng thị trường vốn và hệ thống lập BCTC. Phương thức lập BCTC được mô tả là tập trung vào mối quan hệ giữa doanh nghiệp với nhà đầu tư và tập trung vào luồng thông tin liên quan đến thị trường vốn. Cơ quan nhà nước có thể sử dụng BCTC như công cụ điều hành các hoạt động kinh tế. Tuy nhiện, BCTC được lập chủ yếu phục vụ cho mục đích của nhà đầu tư chứ không phải cho Chính phủ.
Năm 2005 đánh dấu việc ban hành đầy đủ IFRS cho thị trường vốn trên thế giới. Căn cứ vào IFRS, các quốc gia trên thế giới đã ban hành Chuẩn mực lập BCTC phù hợp với từng quốc gia và nhiều quốc gia đã chính thức áp dụng từ 1/1/2005 như Úc, Hồng Kông, các nước Châu Âu …
Chủ đề về áp dụng IFRS tại các nước trên thế giới có tầm quan trọng đặc biệt khi mà các công ty cổ phần niêm yết trên thị trường chứng khoán lập BCTC hợp nhất theo IFRS từ năm 2005, năm đầu tiên áp dụng IFRS. Việc áp dụng IFRS của các nước trên thế giới được coi như một cuộc cách mạng trong công tác kế toán và lập BCTC. Tuy nhiên trong năm đầu tiên áp dụng IFRS, nhiều tồn tại, vướng mắc đã bộc lộ trong quá trình áp dụng Hệ thống chuẩn mực này.
Từ thực tiễn trên, nhiều nghiên cứu khác nhau về tính khả thi trong việc áp dụng IFRS trong năm đầu tiên áp dụng. Một số kinh nghiệm được đưa ra liên quan đến việc áp dụng IFRS của các công ty cổ phần niêm yết trên thị trường chứng khoán tại Châu Âu, Úc, Malaysia, Singapore, Hồng Kông, New Zealand bao gồm:
1. Tính phức tạp của chuẩn mực
Các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán đánh giá quá thấp tính phức tạp, sự ảnh hưởng và chi phí khi áp dụng IFRS. Mặc dù, hầu hết các công ty đã bắt đầu quá trình chuyển đổi trước đó, nhưng trên thực tế khi lập BCTC theo IFRS đã mất nhiều thời gian hơn dự định ban đầu. Có tình trạng đó là khi áp dụng IFRS hàng loạt vấn đề đặt ra và cần phải có sự xét đoán mang tính chủ quan để quyết định đến trị số của các chỉ tiêu trên BCTC.
Trên thực tế, có nhiều vấn đề được coi là rất khó khăn trong việc áp dụng như chuẩn mực kế toán về các công cụ tài chính bao gồm cả các nghiệp vụ phái sinh và kế toán phòng ngừa rủi ro; kế toán theo phương pháp mua, bao gồm cả sự nhận dạng và đo lường tài sản vô hình tách biệt, kiểm tra giảm giá trị của tài sản … Khi kiểm toán viên nhận được BCTC dự thảo mà doanh nghiệp cho là tuân thủ IFRS thì có tới hàng trăm sai sót với mức độ khác nhau cần phải được sửa chữa trước khi phát hành BCTC chính thức để phục vụ cho hoạt động kiểm toán của các công ty kiểm toán.
2. Sự trợ giúp của kiểm toán viên
Để có được BCTC tuân thủ theo IFRS thì cần nhiều đến sự trợ giúp của các kiểm toán viên. Sở dĩ yêu cầu này được đặt ra là do các điều khoản trong IFRS rất phức tạp, trong khi đó các doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp có quy mô nhỏ, thiếu sự tinh thông đối với IFRS. Vì lý do này, sự trợ giúp của kiểm toán viên là rất quan trọng. Việc trợ giúp này liên quan đến các hợp đồng tư vấn về công tác kế toán và lập BCTC cho các doanh nghiệp. Tương tự như vậy là sự tư vấn và các bút toán điều chỉnh được kiểm toán viên đưa ra trong quá trình kiểm toán. Qua đó, nếu BCTC được điều chỉnh theo ý kiến của kiểm toán viên sẽ phản ánh trung thực và hợp lý tình hình tài chính, kết quả kinh doanh, luồng tiền và tất nhiên BCTC tuân thủ theo IFRS.
3. Tính có thể so sánh
Việc áp dụng IFRS dẫn đến tăng khả năng so sánh của các chỉ tiêu trên BCTC của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán. Tuy nhiên, thực tế rất đa dạng và vẫn còn tồn tại trên BCTC hợp nhất năm 2005, do có quá nhiều giả thiết mang tính chủ quan tồn tại trong các chuẩn mực của IFRS. Vì vậy BCTC được lập với nhiều giả định khác nhau tùy theo từng công ty, việc đánh giá xem tính hợp lý của các giả định cũng như tính tuân thủ theo IFRS là công việc không hoàn toàn đơn giản.
Tính có thể so sánh của các thông tin trên BCTC gặp trở ngại lớn do thiếu sự thống nhất về một số nội dung trong biểu mẫu BCTC. Ví dụ, một số công ty phân loại tài sản theo ngắn hạn và dài hạn trong khi một số khác lại không phân loại như vậy; Một số công ty sắp xếp tiền và các khoản tương đương tiền ở đầu bảng cân đối kế toán trong khi một số công ty khác lại sắp xếp tiền và các khoản tương đương tiền ở cuối bảng cân đối kế toán. Trong báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh cũng vậy, sự sắp xếp trình bày không giống nhau sẽ làm khó khăn hơn trong việc so sánh các thông tin.
4. Phương pháp giá trị hợp lý và giá trị sử dụng
Sự khác biệt quan trọng giữa các công ty mà không thể nhận thấy được từ BCTC sẽ nảy sinh như là kết quả của phương pháp giá trị hợp lý và giá trị sử dụng. Một trong những sự chuyển biến sâu sắc nhất trong kế toán khi áp dụng IFRS là sự chuyển hướng nhiều hơn đến kế toán giá trị hợp lý bao gồm phương pháp giảm giá trị của tài sản, lợi thế thương mại và tài sản cố định vô hình. Điều này liên quan đến ước tính chủ quan luồng tiền trong tương lai. Nhiều ước tính được thực hiện dựa trên các giả định không rõ ràng, đôi khi không hợp lý sẽ dẫn đến nhiều kết quả khác nhau và thậm chí có sự chênh lệch lớn giữa các kết quả đó.
5. Tính rõ ràng và ổn định
IFRS được cho là quá phức tạp, thậm chí phức tạp đối với cả kiểm toán viên và các chuyên gia về tài chính kế toán. Đối với hầu hết những người sử dụng BCTC, không đơn giản và dễ dàng để hiểu được thấu đáo các thông tin kế toán và chính sách kế toán trên BCTC.
IFRS cũng được cho là không rõ ràng và không ổn định. Điều này làm giảm sự tin tưởng của các nhà đầu tư vào thị trường vốn. Sự minh họa rõ nét nhất là trong giải thích của Hội đồng Chuẩn mực Kế toán quốc tế về IAS 27 “BCTC hợp nhất và riêng biệt” rằng yêu cầu hợp nhất khi có sự kiểm soát tồn tại. Tuy nhiên, không một công ty kiểm toán nào trong 4 công ty kiểm toán lớn (Big 4) đạt được kết luận đó. Dường như các tuyên bố đáng ngạc nhiên cũng tăng thêm tính không ổn định của IFRS. Hay như chuẩn mực các công cụ tài chính chưa thực sự rõ ràng và đôi khi còn khó hiểu vì sự đa dạng của công cụ tài chính tồn tại và đặc tính thay đổi của thị trường tài chính.
6. Giảm giá trị của lợi thế thương mại
Chuẩn mực yêu cầu ước tính giá trị có thể thu hồi của các đơn vị tạo tiền mà lợi thế thương mại phân bổ cho các đơn vị tạo tiền đó. Cũng theo quy định của Chuẩn mực, giá trị có thể thu hồi thường được xác định theo phương pháp giá trị sử dụng và nó được tính toán như là giá trị hiện tại của luồng tiền trong tương lai. Điều này hoàn toàn mang tính chủ quan, cho nên với các giả định khác nhau thì sẽ có nhiều kết quả khác nhau. Hoàn toàn không đơn giản để xác định kết quả nào tốt nhất vì thực chất không có thị trường cho lợi thế thương mại. Đối với các kiểm toán viên cũng vậy, không đơn giản để xác định sự liên quan giữa tính hợp lý của các giả định đến mô hình chiết khấu luồng tiền như tỷ lệ chiết khấu, tỷ lệ tăng trưởng, giá trị luồng tiền trong tương lai, thời kỳ dự đoán và giá trị còn lại. Chính vì vậy đánh giá tính hợp lý của các giả định là việc làm rất phức tạp.
7. Trình bày các thông tin trên Báo cáo tài chính
Việc trình bày các thông tin theo IFRS dựa trên nguyên tắc trọng yếu. Vấn đề khó khăn đối với việc trình bày là áp dụng khái niệm trọng yếu. Về lý thuyết, trọng yếu là khái niệm chỉ quy mô (mặt lượng) và tính hệ trọng (mặt chất) của các thông tin. Tuy nhiên, các trình bày không mang tính trọng yếu tràn ngập thông tin tài chính trên BCTC làm giảm chất lượng của BCTC. Nhưng khi xét mức trọng yếu đối với việc trình bày thì chủ yếu xét theo định tính chứ không mang tính định lượng. Do vậy càng rất khó xác định nếu không có hướng đi cụ thể. Trọng yếu của việc trình bày trong BCTC là những sai phạm trong trình bày có ảnh hưởng đến các quyết định kinh tế của những người sử dụng BCTC. Tuy nhiên trên thực tế người lập BCTC lại biết quá ít về quá trình đưa ra quyết định kinh tế của những người sử dụng BCTC.
Tóm lại, thực hiện theo IFRS thực sự là một thách thức. Tất cả các bên liên quan, doanh nghiệp, kiểm toán viên và các nhà ban hành chính sách phải xác định đây là vấn đề thực sự quan trọng. Việc thực hiện theo IFRS được coi như một cuộc cách mạng trong công tác kế toán và lập BCTC. Trong thời kỳ đầu áp dụng IFRS, quả là rất khó khăn cho những người lập BCTC vì tính đa dạng, phức tạp và không hoàn toàn rõ ràng của IFRS. Tuy nhiên, nếu tuân thủ theo IFRS, khối lượng khổng lồ về thông tin tài chính kế toán sẽ được phản ánh trên BCTC, mọi khía cạnh trọng yếu về tính hình tài chính, kết quả kinh doanh, luồng tiền, chính sách kế toán và các giả định áp dụng sẽ được phản ánh đầy đủ. Người được lợi nhất chính là những người sử dụng BCTC khi đơn vị áp dụng theo IFRS; qua đó họ có đầy đủ các thông tin cần thiết để xem xét trong việc đưa ra quyết định kinh tế của mình. 
(Theo http://kiemtoan.com.vn)

HÀNH VI QUẢN TRỊ LỢI NHUẬN ĐỐI VỚI THÔNG TIN LỢI NHUẬN CÔNG BỐ TRÊN BÁO CÁO TÀI CHÍNH

Kế toán tạo ra một ngôn ngữ kinh doanh để nhà quản lý (NQL) có thể sử dụng trao đổi với các bên có lợi ích liên quan đến doanh nghiệp. Doanh nghiệp (DN) tuân thủ các quy định chuẩn mực kế toán và các quy định công bố thông tin liên quan trên sàn giao dịch chứng khoán, báo cáo tài chính có thể trở thành công cụ thực hiện được chức năng truyền tải thông tin tài chính có hiệu quả đến nhà đầu tư và các bên có liên quan. BCTC giúp nhà đầu tư và các bên liên quan có thể đánh giá đúng đắn DN, từ đó, có thể phân bổ nguồn vốn một cách tối ưu.
TS. Đường Nguyễn Hưng
Đại học Đà Nẵng
T
hông tin kế toán hữu ích khi phản ánh trung thực thực thể kinh tế của DN trên phương diện tình trạng tài chính và kết quả hoạt động của DN một cách phù hợp và tin cậy. Yêu cầu về tính phù hợp của thông tin đòi hỏi phải trao cho NQL DN có được sự linh hoạt nhất định trong việc vận dụng chính sách và phương pháp kế toán. Yêu cầu về tính tin cậy của thông tin đòi hỏi DN phải tuân thủ các quy định chặt chẽ và chi tiết có thể hạn chế tính phù hợp và kịp thời của thông tin.
Mặc dù, BCTC của các DN niêm yết thường được kiểm toán, những giới hạn nhất định trong khả năng của công tác kiểm toán hạn chế khả năng phát hiện được hết các sai sót và gian lận. Cần phát hiện các hành vi quản trị lợi nhuận của DN và không ngừng hoàn thiện chuẩn mực và các quy định kế toán.
Chất lượng thông tin trên BCTC của DN, đặc biệt là thông tin về lợi nhuận có ảnh hưởng rất lớn đến quyết định nhiều bên liên quan. Trong bối cảnh đó, vấn đề quan tâm chính là chất lượng của thông tin lợi nhuận được công bố. Những hành vi điều chỉnh lợi nhuận theo mục đích của NQL có thể làm cho BCTC không còn phản ánh được bản chất của tình hình tài chính và kết quả hoạt động kinh doanh của DN. Có thể thấy rằng, nghiên cứu về hành vi quản trị lợi nhuận của các DN thực sự có ý nghĩa thực tiễn.
Hành vi quản trị lợi nhuận
Hành vi quản trị lợi nhuận là việc NQL sử dụng các đánh giá chủ quan của mình trong quá trình lập và công bố BCTC và quá trình thực hiện các nghiệp vụ kinh tế để thay đổi BCTC nhằm đánh lừa các bên có liên quan nhất định, hoặc nhằm thay đổi các kết quả của các hợp đồng mà có điều khoản ràng buộc dựa trên số liệu kế toán.
Các đánh giá của NQL được thể hiện cụ thể trong việc lựa chọn các chính sách kế toán và thực hiện các ước tính kế toán của NQL trong quá trình thực hiện công tác kế toán, lập và công bố BCTC của DN. NQL  sử dụng các đánh giá chủ quan của mình trong việc thực hiện các ước tính về các sự kiện kinh tế tương lai được phản ánh trong BCTC của DN, chẳng hạn ước tính về thời gian sử dụng kinh tế của tài sản cố định, tổn thất có thể của các khoản phải thu không thu hồi được, hoặc tổn thất từ việc giảm giá của hàng tồn kho. Cùng với việc thực hiện nhiều ước tính, NQL cũng phải sử dụng đánh giá chủ quan của mình để quyết định việc lựa chọn các chính sách kế toán. Cùng xử lý một vấn đề của một đối tượng kế toán, NQL có thể nhiều lựa chọn khác nhau, chẳng hạn, việc lựa chọn giữa phương pháp khấu hao bình quân hay khấu hao nhanh, giữa phương pháp nhập trước - xuất trước hay phương pháp nhập sau - xuất trước hay phương pháp bình quân gia quyền trong tính giá xuất kho hàng tồn kho.
Đánh giá chủ quan của NQL cũng được vận dụng trong việc thực hiện các nghiệp vụ kinh tế. Các quyết định liên quan đến quản trị vốn lưu động thường sẽ ảnh hưởng đến việc ghi nhận các đối tượng kế toán, chẳng hạn, NQL phải quyết định về thời điểm giao hàng hay nhận hàng.
NQL cũng có thể quyết định thực hiện hay hoãn lại các khoản chi tiêu không bắt buộc như chi phí nghiên cứu và phát triển, quảng cáo, hay bảo trì.
Ở đây cần làm rõ bản chất của hành vi điều chỉnh lợi nhuận. NQL được quyền vận dụng các xét đoán chủ quan của mình trong việc lựa chọn chính sách và thực hiện các ước tính để phản ánh một cách đúng đắn hơn bản chất kinh tế của thực trạng tài chính và kết quả hoạt động của DN. Còn hành vi điều chỉnh lợi nhuận được hiểu như là việc vận dụng không đúng đắn các chính sách và thực hiện các ước tính kế toán và quyết định thời điểm thực hiện các nghiệp vụ một cách có ý đồ dẫn đến việc phản ánh không trung thực bản chất của thực thể kinh tế của DN. Như vậy, ngay cả khi lựa chọn đó làm sai lệch lợi nhuận công bố so với kết quả hoạt động kinh doanh thực sự của DN thì cũng thuộc hành vi điều chỉnh lợi nhuận. Việc thực hiện hành vi điều chỉnh lợi nhuận là nhằm thu được những lợi ích nhất định cho DN hoặc cho NQL. Và do bản chất của sự việc thường là không đúng đắn nên sẽ gây tác động tiêu cực đến nhà đầu tư và các bên có lợi ích liên quan đến DN. Trường hợp phổ biến là người sử dụng thông tin BCTC của DN để ra quyết định có thể dẫn đến quyết định không tối ưu. Trong một số trường hợp khác, việc thực hiện hành vi điều chỉnh lợi nhuận của DN có thể là nhằm bảo đảm các hợp đồng mà có các điều khoản ràng buộc dựa trên TTKT không bị vi phạm, ví dụ, trong hợp đồng vay vốn mà DN ký kết với ngân hàng.
Cơ sở của hành vi quản trị lợi nhuận chính là kế toán theo cơ sở dồn tích. Kế toán theo cơ sở dồn tích có nghĩa là mọi giao dịch kinh tế liên quan đến tài sản, nợ phải trả, nguồn vốn chủ sở hữu, doanh thu và chi phí được ghi nhận tại thời điểm phát sinh giao dịch, không quan tâm đến thời điểm thực tế thu hoặc chi tiền (VAS 01).
Kế toán cần phải ghi nhận doanh thu khi doanh thu đã thực sự phát sinh và chi phí cần phải được ghi nhận phù hợp với việc tạo ra doanh thu trong kỳ kế toán. Việc áp dụng nguyên tắc phù hợp bảo đảm cho lợi nhuận (được đo lường bằng doanh thu trừ chi phí) được đo lường một cách xác thực, phản ánh đúng đắn kết quả hoạt động của DN. Việc thực hiện kế toán theo cơ sở dồn tích dẫn đến thời điểm các khoản doanh thu và chi phí được nhận khác với kế toán theo cơ sở tiền như sau:
- Doanh thu chưa thu tiền: Doanh thu phát sinh được ghi nhận trước khi tiền thu được.
- Chi phí chưa chi tiền: Chi phí phát sinh được ghi nhận trước khi tiền được chi ra.
- Doanh thu chưa thực hiện: Doanh thu được ghi nhận sau khi tiền đã thu vào.
- Chi phí trả trước. Chi phí được ghi nhận sau khi tiền đã chi trả.
Kế toán theo cơ sở dồn tích là cơ sở quan trọng chi phối phương pháp ghi nhận các đối tượng kế toán trong DN (trừ một số loại hình DN áp dụng kế toán theo cơ sở tiền). Tuy nhiên, do doanh thu và chi phí có thể được ghi nhận khi tiền chưa được thu hay chi, dẫn đến vấn đề quan trọng luôn cần phải xem xét đó là doanh thu và chi phí đã thực sự phát sinh chưa và nếu đã phát sinh rồi thì đã được ghi nhận chưa. Việc ghi nhận doanh thu và chi phí trong trường hợp này có thể chịu ảnh hưởng của quyết định chủ quan của NQL. Nếu NQL có động lực muốn thay đổi kết quả lợi nhuận, việc điều chỉnh thời điểm ghi nhận thu và chi phí có thể dẫn đến lợi nhuận công bố thay đổi. Đây chính là hành vi quản trị lợi nhuận. Hành vi quản trị lợi nhuận được thực hiện dựa trên việc điều chỉnh thời điểm và mức độ ghi nhận các khoản doanh thu, chi phí và từ đó tác động đến lợi nhuận.
Mục đích của hành vi quản trị lợi nhuận
Nhà quản lý có thể có nhiều động lực để thực hiện hành vi điều chỉnh lợi nhuận nhằm đặt được một mục tiêu nào đó.
Đối với các DN niêm yết, mối quan hệ giữa cổ đông, NQL và nhà đầu tư luôn là mối quan hệ chủ đạo trong hoạt động của DN. Đối với cổ đông, NQL được giao những trách nhiệm phải hoàn thành, cụ thể hoàn thành các chỉ tiêu kinh doanh, trong đó, quan trọng nhất là chỉ tiêu về lợi nhuận tạo ra áp lực lớn mà có thể khiến cho NQL thực hiện hành vi điều chỉnh lợi nhuận khi lợi nhuận không đạt được như kỳ vọng. Bên cạnh đó, DN một khi đã niêm yết tức là mong muốn có được cơ hội tiếp cận các nguồn vốn từ thị trường một cách dễ dàng hơn. Để có thể thuyết phục được nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư DN phải chứng minh được triển vọng về lợi nhuận trong tương lai của DN. Đây cũng là một động lực lớn thúc đẩy NQL DN có hành vi điều chỉnh lợi nhuận nhằm mục tiêu huy động vốn với chi phí vốn thấp hơn.
Bên cạnh mối quan hệ với cổ đông, DN cũng có mối quan hệ chặt chẽ với các bên có lợi ích liên quan khác, đặc biệt là mối quan hệ với nhà cung cấp tín dụng và thuế. Trong mối quan hệ với người cấp tín dụng cho DN như các ngân hàng, các công ty tài chính, DN phải ký kết hợp đồng với nhiều điều khoản ràng buộc dựa trên các chỉ tiêu tài chính. NQL có thể có các hành vi điều chỉnh lợi nhuận để tránh vi phạm các điều khoản. Liên quan đến thuế, DN phải đóng thuế thu nhập DN dựa trên lợi nhuận phải chịu thuế. Mặc dù, ngày nay, kế toán cho mục đích thuế và kế toán cho mục đích cung cấp thông tin đã có sự tách biệt, nếu muốn giảm thuế, một khả năng xảy ra là DN tránh báo cáo lợi nhuận kế toán ở mức cao để hợp lý hóa hành vi điều chỉnh giảm lợi nhuận chịu thuế, từ đó giảm số thuế thu nhập phải nộp.
Trong mối quan hẹ giữa NQL và DN. NQL DN có thể điều chỉnh lợi nhuận vì những lợi ích cá nhân, NQL sẽ được hưởng nhiều quyền lợi khi hoàn thành các chỉ tiêu được giao, chẳng hạn như các khoản thưởng, đề bạt, tăng lương, và cả việc giữ được vị trí của mình. Do đó, nếu không hoàn thành các chỉ tiêu lợi nhuận, NQL có thể điều chỉnh tăng lợi nhuận để đạt được các chỉ tiêu này, hoặc khi đã đạt vượt chỉ tiêu lợi nhuận nhưng mức thưởng có giới hạn, NQL có thể điều chuyển bớt lợi nhuận sang năm sau. Mặt khác, NQL cũng có thể sở hữu cổ phiếu của DN. Khi này, nếu muốn bán đi số cổ phiếu nắm giữ và thu lợi được mức cao, NQL cũng có thể điều chỉnh lợi nhuận tăng để tác động vào giá cổ phiếu nhằm thu lợi.
Cuối cùng, DN cũng có thể điều chỉnh lợi nhuận nhằm tránh công bố các mức lợi nhuận cao, để tránh cơ quan quản lý Nhà nước có những hành động chính sách điều tiết hoạt động của DN như rút bớt các chính sách ưu đãi điều tra hành vi được cho là độc quyền của DN. Mà đang đem lại lợi ích quá cao cho DN.
(Theo Tạp chí KT & KiT)

Sunday, March 17, 2013

Đánh giá rủi ro kiểm toán: Nhận diện các nguy cơ

Đánh giá rủi ro kiểm toán là một bước vô cùng quan trọng, giúp các công ty kiểm toán xây dựng kế hoạch và thực hiện kiểm toán một cách hợp lý và hiệu quả. Tuy nhiên, trong thực tế hiện nay, việc đánh giá rủi ro ở các công ty kiểm toán vẫn chưa hoàn thiện, do đây là một công việc khó và đòi hỏi trình độ phán xét của kiểm toán viên (KTV) cần đạt ở mức độ khá cao.
Ts Phạm Tiến Hưng
ThS Nguyễn Thị Phương Thảo

D
o nhu cầu về thông tin tài chính trung thực, khách quan ngày càng tăng của các nhà đầu tư và bên liên quan đòi hỏi công ty kiểm toán, đặc biệt là các công ty kiểm toán được chấp thuận kiểm toán báo cáo tài chính (BCTC) của các tổ chức phát hành chứng khoán, các công ty cổ phần niêm yết kinh doanh trên thị trường chứng khoán,… phải chú trọng nhiều hơn đến chất lượng dịch vụ kiểm toán. 
Hiện nay chất lượng dịch vụ kiểm toán chưa đồng đều, còn có sự chênh lệch khá lớn giữa các công ty. Nhiều công ty kiểm toán có số lượng KTV lớn, KTV nhiều kinh nghiệm đã tạo lập được vị thế và danh tiếng trên thị trường, được nhiều khách hàng lớn lựa chọn. Tuy nhiên cũng còn một số công ty nhỏ, mới thành lập chưa đảm bảo chất lượng dịch vụ, do chưa đủ người làm kiểm toán vì bị hạn chế về số lượng KTV hoặc KTV còn làm kiêm nhiệm. Cũng có trường hợp công ty kiểm toán có nhiều khách hàng, trong khi thời hạn phải có báo cáo kiểm toán để phục vụ đại hội cổ đông dồn vào các tháng đầu năm nên ảnh hưởng tới chất lượng kiểm toán. 
Ngoài ra, năng lực, trình độ và đạo đức nghề nghiệp của KTV là những yếu tố mang tính quyết định chất lượng kiểm toán. Thực tế đã có một số trường hợp do trình độ KTV còn bất cập, chưa hiểu sâu về lĩnh vực ngành nghề của khách hàng dẫn đến những sai phạm trong nghề nghiệp, bỏ sót không kiểm toán một số thông tin trên BCTC  hoặc không ghi ý kiến về các sai phạm cho đơn vị được kiểm toán sửa chữa, đồng thời sau khi phát hành báo cáo kiểm toán, các sai phạm không được thông báo cho Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước
Ngoài các sai phạm kể trên, thực tế thời gian qua cũng đã ghi nhận nhiều tồn tại trong việc đánh giá rủi ro kiểm toán dưới ba hình thức cơ bản:
Thứ nhất, không thực hiện đánh giá đầy đủ rủi ro kinh doanh trong qui trình đánh giá rủi ro kiểm toán, thậm chí không cảnh báo được các rủi ro về khả năng hoạt động liên tục của khách hàng dẫn đến doanh nghiệp (DN) bị phá sản hoặc mất khả năng thanh toán ngay sau kiểm toán (như trường hợp của Công ty cổ phần Bông Bạch Tuyết và Tập đoàn kinh tế Vinashin). 
Tại Tập đoàn kinh tế Vinashin, trong năm 2007-2008, DN đối mặt với cuộc khủng hoảng tài chính thế giới, nhiều đơn hàng bị từ chối, hủy hợp đồng, đầu tư cho các dự án quá lớn và dàn trải, trong khi nguồn vốn chủ yếu là đi vay (vốn chủ sở hữu chỉ khoảng 10% tổng nguồn vốn), khả năng trả nợ ngắn hạn gần như không có. Tuy nhiên, qua kiểm toán vẫn khẳng định các khoản vay của Vinashin có lợi thế và đánh giá cao khả năng phát triển của Vinashin. Từ đó tạo điều kiện cho Vinashin tiếp tục phát hành trái phiếu nước ngoài và vay nợ, dẫn đến hậu quả năm 2010 DN mất khả năng thanh toán và Chính phủ phải sử dụng nhiều biện pháp để tái cơ cấu nguồn vốn.
Thứ hai, sử dụng các “biện pháp kỹ thuật” trong kiểm toán để phòng ngừa rủi ro cho công ty kiểm toán hơn là bảo vệ lợi ích khách hàng.
Xu hướng gần đây cho thấy, các báo cáo kiểm toán thường đưa ra ý kiến loại trừ hoặc các lưu ý khi sử dụng thông tin. Dạng thứ nhất là loại trừ do bị giới hạn phạm vi kiểm toán. Loại ý kiến này có thể không đưa ra được định lượng về ảnh hưởng của vấn đề bị giới hạn đối với tình hình kinh doanh và tài chính của DN. Dạng thứ hai là, loại trừ hoặc lưu ý do những khác biệt giữa BCTC của công ty với các chuẩn mực kế toán và chế độ kế toán. Đối với dạng này, về nguyên tắc KTV cần đưa ra đánh giá định lượng đối với kết quả kinh doanh và tình hình tài chính của DN. Trên cơ sở đó, người sử dụng BCTC có thể dự đoán được hiệu quả sản xuất kinh doanh, nếu DN thực hiện kế hoạch hạch toán theo đề nghị của KTV.
Trên thực tế, nhiều công ty kiểm toán đã lạm dụng việc sử dụng dạng ý kiến loại trừ thứ hai hoặc lưu ý trong trường hợp có những xung đột không thống nhất được với khách hàng. Về thực chất, đây chỉ là hình thức các công ty kiểm toán phòng ngừa rủi ro cho mình, đồng thời đẩy rủi ro cho người sử dụng thông tin trên BCTC. Đa phần những người sử dụng báo cáo kiểm toán không có kiến thức chuyên sâu về kế toán, kiểm toán, vì vậy việc ước lượng những tác động và ảnh hưởng của khoản mục được loại trừ hoặc lưu ý đến BCTC là không đơn giản. Hậu quả là, có nhiều báo cáo kiểm toán gặp phải sự phản ứng mạnh từ phía người sử dụng thông tin khi các rủi ro phát sinh. 
Cụ thể như, trường hợp Báo cáo kiểm toán BCTC năm 2009 của Tổng công ty cổ phần xuất nhập khẩu và xây dựng Việt Nam (Vinaconex) có hai điểm loại trừ và 4 điểm lưu ý, trong đó những điểm lưu ý về “chính sách ghi nhận doanh thu từ hoạt động chuyển nhượng bất động sản của tổng công ty”, “chênh lệch tỷ giá liên quan đến việc xây dựng Nhà máy xi măng Cẩm Phả và Nhà máy nước sạch Vinaconex”, đây là điểm có thể tác động trọng yếu đến toàn bộ Báo cáo kết quả kinh doanh năm 2009 của DN. Hậu quả là, tổng công ty đã phải điều chỉnh BCTC sau kiểm toán từ lãi 269 tỷ đồng xuống 6 tỷ đồng, gây ảnh hưởng lớn đến quyết định của nhà đầu tư.
Thứ ba, KTV không kiểm soát được rủi ro kiểm toán trong trường hợp ban giám đốc, quản lý công ty khách hàng thiếu tính trung thực hoặc cố tình gian lận. Nếu ban lãnh đạo đơn vị cố tình làm sai, giả mạo số liệu và sổ sách mà công ty kiểm toán đưa ra những nhận định kiểm toán không đánh giá được đúng tình hình, thì về mặt pháp lý công ty kiểm toán không chịu một chế tài nào. Bởi vì, theo quy định của pháp luật kiểm toán, thì đơn vị được kiểm toán có trách nhiệm “cung cấp kịp thời, đầy đủ và trung thực mọi thông tin, tài liệu cần thiết cho việc kiểm toán”- khoản 1 Điều 6, Nghị định 105/2004/NĐ-CP về kiểm toán độc lập. Do vậy, có thể công ty kiểm toán chỉ soát xét việc thực hiện các chế độ kế toán có đúng quy trình hay không. Do đó, cũng có trường hợp họ không tập trung phân định được những số liệu giả mạo. Điều này ảnh hưởng không tốt đến uy tín của công ty kiểm toán. 
Cụ thể như trường hợp BCTC năm 2008 và 2009 của Công ty cổ phần dược phẩm Viễn Đông do Công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH) kiểm toán và tư vấn (A&C) và Công ty TNHH Enrst&Young kiểm toán. Nguyên Chủ tịch Hội đồng Quản trị  kiêm Tổng giám đốc công ty cổ phần dược phẩm Viễn Đông (DVD) cùng một số người khác đã lập nhiều tài khoản, thông đồng thực hiện việc mua, bán cổ phiếu của công ty cổ phần dược phẩm Hà Tây (DHT) tạo ra cung cầu giả tạo, thao túng giá cổ phiếu DHT. Ngoài ra, Chủ tịch Hội đồng Quản trị kiêm Tổng giám đốc công ty cổ phần dược phẩm Viễn Đông cùng một số đối tượng đã lập ra nhiều công ty do người trong gia đình và bạn bè đứng tên làm lãnh đạo, nhưng thực chất chỉ để kinh doanh lòng vòng, tạo doanh thu ảo cho DVD; cung cấp một số thông tin không đúng thực tế (làm giá), nhằm chào bán cổ phiếu của DVD ra công chúng và hỗ trợ đăng ký niêm yết cổ phiếu DVD. Do đó, BCTC của công ty đã không phản ánh đúng tình trạng tài chính của DN. Tuy hai công ty kiểm toán không phải chịu trách nhiệm liên đới, nhưng uy tín đã bị ảnh hưởng đáng kể. 
Hiện nay, một số công ty kiểm toán lớn là thành viên của các tập đoàn kiểm toán trên thế giới đã đổi mới cách tiếp cận kiểm toán theo rủi ro kinh doanh của khách hàng khi đánh giá về rủi ro kiểm toán, thay vì cách đánh giá truyền thống dựa trên các đánh giá và kết luận về các khoản mục trên BCTC. Đây là cách tiếp cận hiệu quả, vì rủi ro kinh doanh là một nhân tố quan trọng tác động đến việc đánh giá rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát, qua đó tác động đến bản chất, thời gian và phạm vi của công việc kiểm toán thông qua các mức độ yêu cầu khác nhau. 
Ngoài ra, quy trình đánh giá rủi ro trong kiểm toán BCTC tại một số công ty kiểm toán là thành viên hãng kiểm toán lớn như Công ty TNHH Pricewaterhouse Coopers, Công ty TNHH KPMG Việt Nam, Công ty TNHH Ernst&Young Việt Nam, Công ty TNHH Grant Thornton Việt Nam, Công ty TNHH Deloitte Việt Nam, còn được hỗ trợ bởi phần mềm kiểm toán và các chương trình kiểm toán riêng. Đây là công cụ hỗ trợ rất hữu ích, giảm thiểu thời gian kiểm toán và nâng cao chất lượng kiểm toán của các công ty kiểm toán.
(Theo tạp chí Thuế Nhà nước)

Sunday, March 10, 2013

Adsprofitreward - Đã có proof


Proof ngày 10.3.2013









Cập nhập thêm Proof  15.4.2013







PS: Còn chờ đợi gì mà không tham gia ngay hôm nay