Wednesday, July 10, 2013

4 trường hợp doanh nghiệp nhà nước bị giám sát tài chính đặc biệt


Chính phủ vừa ban hành "Quy chế giám sát tài chính và đánh giá hiệu quả hoạt động và công khai thông tin tài chính đối với doanh nghiệp do nhà nước làm chủ sở hữu và doanh nghiệp có vốn nhà nước". Theo quy chế này, có 4 trường hợp doanh nghiệp bị giám sát tài chính đặc biệt.
ANH MINH

Cụ thể, doanh nghiệp bị đặt vào tình trạng giám sát tài chính đặc biệt nếu tại thời điểm lập báo cáo tài chính năm hoặc qua công tác giám sát tài chính, kiểm toán phát hiện có tình hình tài chính, hoạt động sản xuất kinh doanh thuộc một trong 4 trường hợp sau:
Thứ nhất là kinh doanh thua lỗ, có hệ số nợ phải trả trên vốn chủ sở hữu vượt quá mức an toàn theo quy định.
Thứ hai là có số lỗ phát sinh từ 30% vốn chủ sở hữu trở lên hoặc số lỗ lũy kế lớn hơn 50% vốn chủ sở hữu.
Thứ ba là có hệ số khả năng thanh toán nợ đến hạn nhỏ hơn 0,5.
Thứ tư là báo cáo không đúng thực tế về tài chính, làm sai lệch lớn kết quả kinh doanh của doanh nghiệp.
Vẫn theo quy chế, doanh nghiệp thuộc diện giám sát tài chính đặc biệt phải lập phương án cơ cấu lại tổ chức, hoạt động kinh doanh và tài chính để trình chủ sở hữu trong thời gian 20 ngày kể từ khi có quyết định giám sát đặc biệt.
Định kỳ hàng tháng, quý, năm, doanh nghiệp phải báo cáo chủ sở hữu, cơ quan quản lý tài chính doanh nghiệp các chỉ tiêu như: Sản lượng, giá trị sản lượng sản phẩm,hàng hóa dịch vụ chủ yếu sản xuất, tiêu thụ, tồn kho trong kỳ; doanh thu hoạt động kinh doanh, thu nhập khác; chi phí hoạt động kinh doanh, chi phí tiền lương...; tình hình thu hồi nợ, huy động vốn và trả nợ...
Doanh nghiệp thuộc diện giám sát đặc biệt mà 2 năm liên tục (kể từ thời điểm có quyết địnhgiám sát đặc biệt) không còn có các chỉ tiêu thuộc diện giám sát đặc biệt và thực hiện đầy đủ chế độ báo cáo giám sát thì được đưa ra khỏi danh sách giám sát đặc biệt.
Ngược lại, nếu doanh nghiệp thuộc diện giám sát đặc biệt 2 năm liên tục vẫn thua lỗ thì phải thực hiện chuyển đổi sở hữu hoặc giải thể, phá sản theo quy định.
(Theo Vneconomy)

Gỡ vướng cho chế độ kế toán trên TTCK

(ĐTCK) Góp ý cho dự thảo Thông tư của ông Nguyễn Thanh Tùng, Phó tổng giám đốc Hãng kiểm toán AASC.
LTS: Chế độ kế toán doanh nghiệp (DN) ban hành theo Quyết định 15/2006/QĐ-BTC ngày 20/3/2006 đang bộc lộ không ít tồn tại. Bộ Tài chính vừa hoàn thiện hai dự thảo Thông tư: “Sửa đổi, bổ sung chế độ kế toán DN” và “Sửa đổi phương pháp lập và trình bày báo cáo tài chính hợp nhất” nhằm phù hợp với yêu cầu quản lý và thực tiễn sản xuất - kinh doanh đã thay đổi. ĐTCK xin trích lược góp ý cho dự thảo Thông tư của ông Nguyễn Thanh Tùng, Phó tổng giám đốc Hãng kiểm toán AASC.
Các vướng mắc về kế toán chưa được đề cập
Thứ nhất, về hạch toán quỹ dự trữ để bổ sung vốn điều lệ. Điều lệ mẫu áp dụng cho các DN niêm yết ban hành theo Quyết định số 15/2007/QĐ-BTC ngày 19/3/2007 của Bộ Tài chính quy định, hàng năm, DN niêm yết phải trích quỹ dự trữ để bổ sung vốn điều lệ. Tuy nhiên, chế độ kế toán DN lại không hướng dẫn hạch toán quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ. Do đó, cần bổ sung tài khoản (TK) cấp 1- TK 416 để hạch toán quỹ này.
Thứ hai, về trích lập dự phòng đối với cổ phiếu chưa niêm yết khi không có giá thị trường. Theo quy định hiện hành, việc trích lập dự phòng giảm giá đầu tư chứng khoán đối với cổ phiếu chưa niêm yết (ngoài cổ phiếu tại UPCoM) được thực hiện theo giá thị trường của cổ phiếu là giá giao dịch thực tế bình quân của 3 công ty chứng khoán tại thời điểm trích lập, trường hợp không có giá thị trường thì DN không được trích lập dự phòng. Tuy nhiên, có nhiều DN lỗ gần hết vốn nhưng khoản đầu tư vào cổ phiếu của DN này cũng không phải trích lập dự phòng, vì không có giá thị trường.
Do đó, Thông tư nên có quy định việc trích lập dự phòng giảm giá đầu tư chứng khoán đối với cổ phiếu chưa niêm yết không có giá thị trường được xác định theo giá trị sổ sách của cổ phiếu tại thời điểm trích lập hoặc cuối quý trước liền kề. Sở dĩ nên chọn giá trị sổ sách của cổ phiếu chưa niêm yết làm căn cứ trích lập dự phòng vì thực tế một số báo cáo tài chính đã được kiểm toán bởi Big Four (ví dụ, báo cáo của SSI) đã dùng giá trị sổ sách của cổ phiếu chưa niêm yết không có giá thị trường làm căn cứ trích lập dự phòng. Ngoài ra, tại khoản 1, Điều 23 dự thảo Thông tư sửa đổi chế độ kế toán DN cũng dùng giá trị sổ sách của cổ phiếu làm căn cứ hoán đổi cổ phiếu khi cổ phiếu không có giá thị trường.
Thứ ba, về hạch toán trong trường hợp chi phí thực hiện lớn hơn doanh thu ước tính của hợp đồng xây dựng. Theo Chuẩn mực kế toán số 02 thì chi phí sản xuất - kinh doanh của hợp đồng xây dựng thuộc hàng tồn kho và hàng tồn kho được tính theo giá gốc, trường hợp giá trị thuần có thể thực hiện được thấp hơn giá gốc thì phải tính theo giá trị thuần có thể thực hiện được. Tuy nhiên, theo Điều 2, Thông tư 228/2009/TT-BTC thì dự phòng giảm giá hàng tồn kho chỉ tính cho vật tư, thành phẩm, hàng hóa tồn kho. Bởi vậy, chi phí sản xuất - kinh doanh của các hợp đồng xây dựng hiện nay luôn phải ghi theo giá gốc, điều này trái với Chuẩn mực kế toán số 02. Hệ quả là nhiều hợp đồng xây dựng có chi phí thực hiện lớn hơn doanh thu dự kiến (giá trị thuần có thể thực hiện được thấp hơn giá gốc), nhưng không được trích lập dự phòng hoặc ghi nhận vào chi phí trong năm.
Do đó, cần ghi nhận vào chi phí hoạt động kinh doanh trong năm như chuẩn mực kế toán quốc tế, hoặc ban hành quy định trích lập dự phòng khoản này nếu chi phí thực hiện lớn hơn doanh thu ước tính của hợp đồng xây dựng và ước tính được khoản lỗ dự kiến của hợp đồng xây dựng.
Thứ tư, về hạch toán tài sản cố định hình thành qua xây dựng cơ bản dở dang (XDCBDD) trong trường hợp thanh toán bằng ngoại tệ theo nhiều kỳ. Theo quy định hiện hành, bên nhận thầu bàn giao XDCBDD thanh toán bằng ngoại tệ được hạch toán giá trị tài sản theo tỷ giá thực tế tại thời điểm bàn giao. Nhiều DN không đồng ý với cách hạch toán này, vì mâu thuẫn với quyết toán vốn đầu tư XDCB hoàn thành. Kiểm toán quyết toán vốn đầu tư XDCBDD hoàn thành của các DN được các công ty kiểm toán xác định giá trị tài sản theo tỷ giá từng lần hạch toán tăng chi phí XDCBDD TK 241 “xây dựng cơ bản dở dang”. AASC cũng đã vướng phải trường hợp này khi kiểm toán viên thực hiện xác định giá tài sản theo tỷ giá tại thời điểm bàn giao dẫn đến lãi về tỷ giá trên 20 tỷ đồng và đề nghị DN ghi tăng trên 20 tỷ đồng chênh lệch tỷ giá phát sinh vào giá trị tài sản (vốn hóa tỷ giá), nhưng DN không đồng ý vì mâu thuẫn với quyết toán vốn đầu tư và DN không có dòng tiền để nộp thuế thu nhập DN, chia cổ tức.
Do đó, hạch toán giá trị tài sản cố định hình thành qua XDCBDD nên theo tỷ giá thực tế của từng thời điểm hạch toán tăng chi phí XDCBDD, chứ không nên theo tỷ giá tại thời điểm bàn giao, đặc biệt đối với dự án có thời gian thi công dài nhiều năm.
Nhận xét một số nội dung trong dự thảo Thông tư
Một là, hạch toán nhận vốn góp và phân chia lợi nhuận sau thuế trong hợp đồng hợp tác kinh doanh. Một số DN hạch toán nhận vốn góp vào TK 4118 làm phản ánh không đúng giá sổ sách của DN, cũng như giá sổ sách của cổ phiếu. AASC đồng ý với dự thảo Thông tư là hạch toán nhận vốn góp được ghi nhận vào TK 3388 “phải trả, phải nộp khác”. Tuy nhiên, bút toán tại bên góp vốn khi nhận chia lãi sau thuế của hợp đồng ghi tăng TK 511 “doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ” thì có vẻ chưa phù hợp, vì bản chất đây là hoạt động đầu tư, nên ghi tăng TK 515 “doanh thu hoạt động tài chính”.
Hai là, do không có quy định về chuyển vay dài hạn đến hạn trả thành vay ngắn hạn tại thời điểm cuối niên độ kế toán nên một số DN không kết chuyển bút toán này với lý do không có hướng dẫn kế toán và vì báo cáo tài chính sẽ “đẹp” hơn liên quan đến khả năng thanh toán. AASC đồng ý với dự thảo Thông tư rằng, bút toán hạch toán chuyển vay dài hạn đến hạn trả trong kỳ kế toán sau vào TK 311 “vay ngắn hạn” mà không dùng TK 315, vì tên gọi và nội dung TK 315 chỉ là nợ dài hạn đến hạn trả.
Ba là, hạch toán doanh thu kinh doanh bất động sản được nhiều DN thực hiện khác nhau theo Chuẩn mực kế toán 14 - Doanh thu và thu nhập khác, hoặc Chuẩn mực kế toán 15 - Hợp đồng xây dựng, hoặc theo tiền thực nhận theo hướng dẫn của cơ quan thuế. AASC đồng ý với dự thảo Thông tư là DN cần hạch toán theo Chuẩn mực kế toán 14, theo đúng bản chất của nghiệp vụ. Tuy nhiên, nếu thực hiện hồi tố sẽ làm số dư TK 421 - Lợi nhuận sau thuế chưa phân phối của nhiều DN bị âm, vì ghi nhận doanh thu trước, trong khi DN đã nộp thuế và chia cổ tức; việc này ảnh hưởng lớn đến các nhà đầu tư, nhất là việc hồi tố đối với các DN niêm yết.

(Theo ĐTCK)

Nhận diện công ty Holdings: Thách thức nhìn từ báo cáo tài chính

Ảnh minh họa
Xuất phát từ thực tế không muốn phô trương, các tập đoàn khi muốn sở hữu dự án thường thông qua nhiều hình thức và không "ra mặt".

Bảo Hân

Theo đà phát triển, quy mô của các doanh nghiệp sẽ tăng dần, hoạt động kinh tế, tài chính cũng sẽ đa dạng, phức tạp hơn nên cấu trúc của các công ty cũng thay đổi. Từ một vài công ty con, đến một nhóm công ty rồi cả hệ thống công ty liên quan, cấu trúc các công ty liên tục thay đổi và hiện nay, ngày càng có nhiều công ty mang mô hình holdings (công ty mẹ) xuất hiện trên thị trường.
Cũng chính vì vậy, việc có thể đánh giá tình hình hoạt động của các công ty có cấu trúc phức tạp nhìn chung là không đơn giản. Đối với một nhà đầu tư thông thường, nhận diện báo cáo tài chính vốn đã khó, nếu là báo cáo tài chính của một công ty holdings nào đó sẽ lại thêm nhiều thách thức.
Từ sở hữu chồng chéo
Xuất phát từ thực tế không muốn phô trương, các tập đoàn khi muốn sở hữu dự án thường thông qua nhiều hình thức và không "ra mặt". Chính vì lẽ đó, các tập đoàn thường lập ra nhiều công ty con với cơ chế sở hữu chồng chéo không rõ ràng.
Ví dụ tập đoàn H muốn sở hữu dự án R nhưng không thích phô trương. Tập đoàn H sẽ lập ra công ty con S1 và S2. Công ty S1 sở hữu 30% dự án R. Công ty S2 sở hữu 40% dự án R. Như vậy, về mặt hình thức, dự án R được sở hữu bởi nhiều cổ đông nhưng về mặt pháp lý, tập đoàn H đã sở hữu 70% dự án R - tức có quyền định đoạt toàn bộ dự án R. Đến đây, chúng ta có thể nhận thấy việc sở hữu chồng chéo như thế này bắt đầu gây khó khăn cho nhà đầu tư trong việc định giá doanh nghiệp.
Xét ở góc độ kế toán thì việc sở hữu như thế này sẽ bóp méo tình hình tài chính của tập đoàn H. Trường hợp tập đoàn H không thành lập 2 công ty con S1 và S2 thì sẽ nắm quyền kiểm soát dự án R, khi đó, những khoản nợ phát sinh từ dự án R sẽ do tập đoàn H gánh chịu và cổ đông chắc chắn hiểu được vấn đề này hơn.
Nhưng trong trường hợp tập đoàn H thành lập 2 công ty con S1 và S2, những khoản nợ phát sinh từ dự án R sẽ được phân bổ cho 2 công ty S1 và S2, và chắc chắn rằng S1 và S2 không gánh hoàn toàn những khoản nợ phát sinh từ dự án R.

Trường hợp 1, tập đoàn H phải ghi nhận các khoản nợ từ dự án R vào báo cáo tài chính hợp nhất. Như vậy, nếu dự án R không tốt như kỳ vọng thì tình hình tài chính của tập đoàn sẽ trở nên "bi đát" hơn và nếu muốn duy trì dự án R, H phải vay thêm nợ và điều này sẽ thể hiện trên báo cáo tài chính.
Tuy nhiên, H có thể "lách" bằng cách lập 2 công ty con để sở hữu dự án R và mỗi công ty đều sở hữu dưới 50%. Như vậy, về mặt kế toán, H không phải gánh chịu những khoản nợ phát sinh từ R. Điều này gây khó khăn cho kiểm toán viên khi muốn đưa ra bức tranh thật của doanh nghiệp cho người sử dụng báo cáo tài chính.
Xét cho cùng, cách "lách luật" này của tập đoàn H không sai về mặt nguyên lý kế toán, nhưng bản chất thì không thay đổi. Đứng ở góc độ kế toán, việc chuyển từ phương pháp hợp nhất báo cáo tài chính sang phương pháp vốn chủ sở hữu cũng gây không ít nhầm lẫn cho công tác kế toán trong doanh nghiệp.
Việc sở hữu chồng chéo còn gây khó khăn cho nhà đầu tư khi đánh giá thực trạng doanh nghiệp. Đối với những công ty con mà tập đoàn sở hữu chéo, nếu tập đoàn đã "cố tình" không công bố thông tin đầy đủ thì nhà đầu tư không thể đánh giá chính xác mức độ kiểm soát của công ty mẹ đối với từng công ty liên doanh, liên kết mà bản chất có thể là công ty con.
Đến thách thức kiểm soát nội bộ
Việc tập đoàn H sở hữu nhiều công ty con cũng dẫn đến việc không thể duy trì cơ chế kiểm soát nội bộ hiệu quả đối với từng công ty con. Điều này xuất phát từ yếu tố con người. Thành lập càng nhiều công ty con đồng nghĩa với việc phải tăng cường nguồn nhân lực tương ứng và phải duy trì được hệ thống kiểm soát nội bộ như ban đầu.
Đây là vấn đề không dễ thực hiện vì quy mô của công ty mẹ khác công ty con, yếu tố con người cũng không giống nhau. Ngoài ra, phân tán nguồn lực cũng khiến doanh nghiệp khó tập trung vào việc củng cố những quy chuẩn hiện hành đối với toàn bộ hệ thống.
Đứng ở góc độ kiểm toán, đối diện hệ thống kiểm soát nội bộ yếu kém thì kiểm toán viên phải thực hiện khối lượng công việc nhiều hơn vì không thể dựa vào hệ thống kiểm soát nội bộ của doanh nghiệp trong việc giảm thiểu rủi ro kiểm soát.
Đối với nhà đầu tư bên ngoài, hệ thống kiểm soát nội bộ không nói lên nhiều điều. Một phần vì nhà đầu tư không có đủ thông tin để đánh giá, và một phần vì việc đánh giá này không mang lại nhiều lợi ích do nhà đầu tư không thể lượng hóa những yếu kém hay những điểm mạnh của hệ thống kiểm soát nội bộ vào việc định giá công ty.
Tuy nhiên, như đã nêu ở trên, dưới góc độ kế toán và kiểm toán, hệ thống kiểm soát nội bộ là cực kỳ quan trọng. Bất kỳ yếu kém nào trong hệ thống kiểm soát nội bộ cũng tạo gánh nặng lên công việc kế toán và kiểm toán.
Hiện nay, trên thị trường chứng khoán, chế độ công bố thông tin thường tập trung vào những thông tin tài chính, ảnh hưởng đến quyết định của nhà đầu tư. Vì vậy, những thông tin khác thường bị bỏ qua và thông tin về cấu trúc doanh nghiệp là một trong số thông tin bị bỏ qua đó.
Việc siết chặt thông tin này góp phần hạn chế cửa "bủa" của doanh nghiệp và góp phần làm cho công tác kế toán được minh bạch hơn. Đối với những khoản đầu tư mà bản chất là công ty con, chế độ công bố thông tin nên quy định rõ doanh nghiệp phải cung cấp đầy đủ thông tin về công ty con (đặc biệt là thông tin tài chính) cho nhà đầu tư. Như vậy, bức tranh tổng thể về các tập đoàn sẽ rõ ràng hơn và nhà đầu tư cũng yên tâm phần nào với các quyết định đầu tư của mình.
(Theo Thời báo kinh doanh)

Khoảng cách kỳ vọng trong kiểm toán

Khoảng cách kỳ vọng trong kiểm toán (Audit Expectation Gap) không phải là vấn đề mới trong lĩnh vực kiểm toán. Nó được xem như một hình ảnh xấu cho kiểm toán nói chung và kiểm toán độc lập nói riêng. Bài viết này trình bày bản chất và nguyên nhân hình thành khoảng cách kỳ vọng kiểm toán trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng. Qua đó để giảm bớt khoảng cách kỳ vọng kiểm toán thì cần nâng cao trách nhiệm và thực hành kiểm toán từ phía các kiểm toán viên và công ty kiểm toán; nâng cao nhận thức của những người sử dụng báo cáo tài chính và hoàn thiện hệ thống luật pháp.

TS. Trần Mạnh Dũng - Đại học KTQD
Ths. Lại Thị Thu Thủy - ĐH Thương Mại

Khái niệm khoảng cách kỳ vọng kiểm toán

Theo Liggio (1974), khoảng cách kỳ vọng kiểm toán là sự khác biệt giữa mức độ dự định thực hiện theo nhận thức của KTV và của những người sử dụng BCTC. Ủy ban Cohen (1978) về trách nhiệm của KTV mở rộng khái niệm này bằng việc xem xét xem có khoảng cách nào tồn tại giữa những gì mà công chúng kỳ vọng và những gì mà KTV có thể và nên dự định thực hiện.
Theo Guy và Sullivan (1988), có sự khác biệt giữa những gì mà công chúng và những người sử dụng BCTC tin tưởng KTV chịu trách nhiệm và những gì mà KTV tin tưởng họ chịu trách nhiệm. Godsel (1992) mô tả khoảng cách kỳ vọng là khoảng cách mà công chúng tin tưởng về nhiệm vụ và trách nhiệm của KTV và thông điệp thể hiện trong Báo cáo kiểm toán.
Monroe và Woodliff (1003) cho rằng khoảng cách kỳ vọng kiểm toán là sự khác biệt về niềm tin giữa KTV và công chúng về nhiệm vụ và trách nhiệm mà KTV đảm nhận và thông điệp trình bày trong báo cáo kiểm toán. Theo Viện Kế toán viên Công chứng Hoa Kỳ (1993), khoảng cách kỳ vọng đề cập đến sự khác biệt giữa những gì mà công chúng và người sử dụng BCTC tin rằng trách nhiệm của KTV phải làm và những gì mà KTV tin rằng trách nhiệm họ phải làm. Viện Kế toán viên Công chúng Úc (1994) cho rằng khoảng cách kỳ vọng là sự khác biệt về kỳ vọng của người sử dụng BCTC và chất lượng lập BCTC & chất lượng dịch vụ kiểm toán.
Như vậy, có thể nhận thấy rằng mặc dù các khái niệm với các từ ngữ khác nhau nhưng các khái niệm trên đều đề cập đến khoảng cách về sự nhận thức hoạt động thực tế của KTV và kỳ vọng mà KTV phải thực hiện; và tồn tại sự khác biệt về nhận thức giữa KTV, người sử dụng BCTC và xã hội.
Trên thực tế, lúc nào cũng có sự khác biệt về nhận thức giữa KTV và công ty kiểm toán thực hiện hoạt động kiểm toán, và sự nhận thức của những người sử dụng BCTC và xã hội đối với hoạt động kiểm toán. Tuy nhiên, khi hoạt động kiểm toán ngày càng trở nên phổ biến thì khoảng cách này lại có sự thu hẹp qua thời gian. Chính do xuất hiện khoảng cách kỳ vọng trong kiểm toán mà sự mâu thuẫn và hiểu lầm giữa KTV và Công ty kiểm toán, và những người sử dụng BCTC thường xuyên xảy ra. Sự xuất hiện khoảng cách kỳ vọng kiểm toán này, xét một cách khách quan, được hình thành từ cả phía KTV và Công ty kiểm toán; và chính từ phía những người sử dụng BCTC.
Nguyên nhân hình thành khoảng cách kỳ vọng kiểm toán
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến sự hình thành khoảng cách kỳ vọng kiểm toán. Trong các nghiên cứu của Guy và Sullivan (1988), Godsel (1992), Monroe và Woodliff (1993) và các nghiên cứu khác khẳng định rằng sự hình thành khoảng cách kỳ vọng kiểm toán xuất phát phổ biến từ phía KTV và công ty kiểm toán và từ phía những người sử dụng BCTC.
Thứ nhất, từ phía KTV và công ty kiểm toán. Cụ thể, các dịch vụ kiểm toán do KTV và công ty kiểm toán cung cấp chưa thực sự hoàn hảo và chưa thỏa mãn nhu cầu và kỳ vọng của những người sử dụng BCTC. Dịch vụ kiểm toán chưa hoàn hảo có thể do:
- Năng lực nghề nghiệp của KTV thực hiện cuộc kiểm toán chưa cao do vậy chưa phát hiện được các sai phạm trọng yếu vẫn còn tồn tại trong BCTC đã được kiểm toán;
- Tính độc lập của KTV bị vi phạm như KTV chưa độc lập đầy đủ về quan hệ xã hội và quan hệ kinh tế với đơn vị được kiểm toán và chưa độc lập trong việc thu thập và đánh giá các bằng chứng kiểm toán;
- Không phải lúc nào KTV cũng kiểm tra 100% các nghiệp vụ kinh tế phát sinh cho nên hoạt động kiểm toán lúc nào cũng tồn tại rủi ro;
- Môi trường luật pháp về kiểm toán chưa thực sự đồng bộ và đầy đủ.
Ngoài ra, trong quá trình thực hiện các cuộc kiểm toán bao gồm cả cuộc kiểm toán BCTC, các KTV và Công ty kiểm toán chưa thông báo và giải thích hoặc có thông báo và giải thích không đầy đủ cho những người sử dụng BCTC như Ban Giám đốc công ty khách hàng và các bộ phận có liên quan trong đơn vị được kiểm toán như phòng Kế toán … về bản chất của cuộc kiểm toán. Cụ thể, người sử dụng BCTC vẫn chưa hiểu thấu đáo cơ sở tiến hành kiểm toán; đối tượng kiểm toán; phạm vi kiểm toán; ý kiến kiểm toán, mức trọng yếu, các loại rủi ro có liên quan …
Hơn nữa, ý kiến chấp nhận từng phần có ngoại trừ bị lạm dụng và được nhiều KTV và công ty kiểm toán đưa ra. Mục đích của việc đưa ra ý kiến này là để giảm thiểu trách nhiệm của KTV về BCTC đã được kiểm toán. Theo Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 700 và 705, ý kiến chấp nhận từng phần được được áp dụng trong trường hợp KTV kết luận là các sai sót, xét riêng lẻ hay tổng hợp lại, có ảnh hưởng trọng yếu nhưng không lan tỏa đối với BCTC; hoặc KTV không thể thu thập được đầy đủ bằng chứng kiểm toán thích hợp để làm cơ sở đưa ra ý kiến kiểm toán, nhưng KTV kết luận rằng những ảnh hưởng có thể có của các sai sót chưa được phát hiện (nếu có) có thể là trọng yếu nhưng không lan tỏa đối với BCTC.
Thứ hai, từ phía chính những người sử dụng BCTC. Vẫn còn nhiều quan niệm cho rằng (i) trách nhiệm của KTV là bảo đảm BCTC được kiểm toán là chính xác tuyệt đối và không có bất cứ sai sót nào tồn tại; và (ii) KTV cần phải kiểm tra 100% các nghiệp vụ kinh tế và phát hiện tất cả các sai sót và gian lận qua đó cảnh báo tất cả các rủi ro có thể xảy ra đến doanh nghiệp; và (iii) BCTC phải trình bày tất cả các thông tin có liên quan đến mọi hoạt động của doanh nghiệp.
Nhiều người sử dụng BCTC cho rằng BCTC đã được kiểm toán là sự bảo đảm tuyệt đối các thông tin phản ánh trên BCTC của doanh nghiệp. Nhiều người sử dụng BCTC đã được kiểm toán cũng kỳ vọng rằng số liệu mà KTV xác nhận trên BCTC phải giống như số liệu mà các cơ quan khác thanh quyết toán BCTC của đơn vị như số liệu về thuế phải nộp, chi phí hợp lý hợp lệ … Cũng còn nhiều người sử dụng BCTC chưa phân biệt được sự khác biệt giữa loại ý kiến chấp nhận toàn phần và ý kiến không chấp nhận toàn phần (ý kiến ngoại trừ, ý kiến từ chối và ý kiến trái ngược). Do vậy, họ không quan tâm nhiều đến ý kiến KTV và khi quyết định kinh tế của họ có sai lầm thì dẫn đến mâu thuẫn và tranh chấp kiện tụng với KTV và công ty kiểm toán.
Quả thật, để thỏa mãn kỳ vọng của những người sử dụng BCTC theo quan điểm trên dường như là ảo tưởng và không thể thực hiện được đối với KTV và công ty kiểm toán. Sở dĩ, BCTC được lập dựa trên rất nhiều giả định mang tính chủ quan như giả định về tính liên tục hoạt động, lập BCTC trong nền kinh tế ổn định … và tồn tại nhiều ước tính kế toán có liên quan như dự phòng, chi phí phải trả … Do vậy, KTV không thể khẳng định tính chính xác tuyệt đối của BCTC. Hơn nữa, BCTC không thể trình bày được tất cả các thông tin liên quan đến hoạt động của doanh nghiệp mà trên Thuyết minh BCTC chỉ trình bày các thông tin trọng yếu mà thôi. Ngoài ra, KTV không có trách nhiệm phát hiện tất cả các sai sót tồn tại trong BCTC của doanh nghiệp. Điều này là điều không thể đối với các KTV. KTV chỉ thực hiện cuộc kiểm toán dựa trên mức trọng yếu đã được xây dựng trong lập kế hoạch kiểm toán. Hơn nữa, các giải pháp nhằm giảm thiểu khoảng cách kỳ vọng kiểm toán khoảng cách kỳ vọng kiểm toán luôn tồn tại và tác động trực tiếp đến KTV, những người sử dụng BCTC và thậm chí tác động đến nền kinh tế. Do vậy, giảm thiểu sự cách biệt về khoảng cách kỳ vọng giữa các đối tượng này đã được bàn đến trong rất nhiều các nghiên cứu. Có một số các giải pháp được đưa ra dựa trên kết quả tổng hợp các nghiên cứu trước đây. Cụ thể:
Thứ nhất, nâng cao năng lực của KTV và công ty kiểm toán
- KTV cần tuân thủ yêu cầu về tính độc lập như không có ràng buộc trong việc tiếp cận tài liệu và thu thập thông tin; không bị chi phối về lợi ích khi thực hiện công việc kiểm toán; độc lập về quan hệ xã hội và độc lập trong việc thu thập và đưa ra ý kiến của mình. Bên cạnh đó, KTV phải có trình độ chuyên môn uyên thâm về tài chính, kế toán và kiểm toán, và nắm rõ các chính sách và chế độ tài chính kế toán. Ngoài ra, KTV cần nâng cao kỹ năng phục vụ nghề nghiệp như kỹ năng làm việc theo nhóm, kỹ năng thu thập thông tin, kỹ năng giải quyết vấn đề …
- Công ty kiểm toán cần công bố và giải trình rõ ràng hơn các bước công việc kiểm toán. Ngoài ra, công ty kiểm toán yêu cầu KTV nghiêm túc thực hiện đúng theo kế hoạch kiểm toán và thực hiện kiểm toán với thái độ thận trọng cao. Công ty kiểm toán cần tổ chức hướng dẫn, đào tạo và đào tạo lại chuyên môn nghiệp vụ tốt hơn cho các KTV. Các tiêu chuẩn đánh giá năng lực KTV cần được xây dựng và công bố mức trọng yếu qua Thư quản lý và kèm theo BCTC đã được kiểm toán.
- KTV cần thông báo và giải thích đầy đủ và chi tiết về bản chất cuộc kiểm toán BCTC như đối tượng, phương pháp, quy trình, trong yếu, rủi ro, ý kiến kiểm toán, cơ sở tiến hành kiểm toán ... để những người sử dụng BCTC như Ban Giám đốc, Bộ phận Kế toán và các Bộ phận có liên quan hiểu được hoạt động kiểm toán.
- KTV cần tuân thủ chuẩn mực nghề nghiệp và không được lạm dụng ý kiến chấp nhận từng phần đưa ra trong Báo cáo kiểm toán để tránh xảy ra những bất đồng với khách hàng.
Thứ hai, nâng cao nhận thức của những người sử dụng BCTC
Giáo dục nâng cao nhận thức của những người sử dụng BCTC sẽ giúp giảm bớt khoảng cách kỳ vọng kiểm toán. Cần nâng cao kiến thức của công chúng thông qua các phương tiện thông tin đại chúng; tổ chức các buổi họp báo, hội thảo phổ biến kiến thức kiểm toán qua đó tuyên truyền giải thích cho những người sử dụng các dịch vụ kiểm toán đặc biệt là dịch vụ kiểm toán BCTC; giải thích trách nhiệm của KTV và trách nhiệm của các nhà quản lý đối với BCTC của doanh nghiệp.
Thứ ba, hoàn thiện hệ thống luật pháp và chuẩn mực kiểm toán
Trong quá trình thực hiện kiểm toán và đưa ra ý kiến về BCTC của doanh nghiệp, KTV luôn phải tuân thủ theo luật định và chuẩn mực kiểm toán. Việc nghiên cứu và ban hành chuẩn mực kiểm toán rõ ràng và đầy đủ sẽ giúp cho KTV tránh được những nhầm lẫn trong việc tiếp nhận thông tin cũng như thực thi trong quá trình kiểm toán.
Tại Việt Nam, hệ thống chuẩn mực kiểm toán chưa thực sự đầy đủ cho nên gây khó khăn cho KTV và công ty kiểm toán trong việc thực hiện chức năng xác minh và bày tỏ ý kiến. Do vậy, việc ban hành đầy đủ khung pháp lý về kiểm toán phù hợp với thông lệ phổ biến của kiểm toán quốc tế là rất cần thiết. Chính vì vậy, hàng loại các chuẩn mực kiểm toán cần ban hành trong thời gian tới như chuẩn mực về Thông tin với những người có trách nhiệm của đơn vị; Thông báo sự hạn chế trong kiểm soát nội bộ đối với những người có trách nhiệm và Ban quản lý; Phản hồi của kiểm toán viên về rủi ro được đánh giá; Đánh giá về các sai phạm được nhận diện trong cuộc kiểm toán; Các xem xét đặc biệt – Kiểm toán báo cáo tài chính tập đoàn (bao gồm công việc của các kiểm toán viên bộ phận); Các xem xét đặc biệt – Kiểm toán các báo cáo tài chính được lập theo mục đích đặc biệt … Ngoài ra, chuẩn mực kiểm toán Việt Nam cần sửa đổi hàng năm cho phù hợp với chuẩn mực kiểm toán quốc tế và phù hợp với tình hình thực tế tại Việt Nam.
Ngoài ra, để giảm khoảng cách kỳ vọng kiểm toán thì Bộ Tài chính và tổ chức hiệp hội nghề nghiệp như Hội Kiểm toán viên hành nghề Việt Nam (VACPA) cần kiểm tra kiếm soát thường xuyên về chất lượng hoạt động kiểm toán. Cần có chế tài cương quyết đối với các cuộc kiểm toán có chất lượng thấp và thông báo rộng rãi trên các phương tiện thông tin đại chúng để những người sử dụng BCTC biết được chất lượng thực sự từ phía các công ty kiểm toán. Bộ Tài chính và VACPA cần ban hành văn bản pháp lý tính điểm chất lượng hoạt động kiểm toán của các công ty kiểm toán.
Tóm lại, khoảng cách kỳ vọng kiểm toán luôn tồn tại sự khác biệt về nhận thức giữa KTV, các nhà đầu tư, ngân hàng, chuyên gia phân tích tài chính, các nhà quản lý doanh nghiệp … Trong những năm gần đây, hoạt động kiểm toán ngày càng trở nên quan trọng. Những người quan tâm ngày càng hiểu biết hơn và họ hy vọng KTV bảo vệ lợi ích cho họ và họ kỳ vọng BCTC được kiểm toán có chất lượng bởi lẽ KTV sẽ giúp họ đưa ra các quyết định kinh tế đúng đắn. Khoảng cách kỳ vọng kiểm toán giữa KTV và những người sử dụng BCTC vẫn sẽ là đề tài bàn luận tiếp theo và để giảm khoảng cách kỳ vọng này có thể được thực hiện thông qua việc nâng cao trách nhiệm của KTV, nâng cao nhận thức của những người sử dụng BCTC và ban hành các chuẩn mực mới.
(Theo Tạp chí Kế toán &Kiểm toán số 5-2013(116))

Thu nhập vãng lai từ 2 triệu phải khấu trừ 10% thuế TNCN

Bộ Tài chính vừa gửi Văn bản số 8817/BTC-TCT cho các Cục Thuế địa phương về việc triển khai luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế Thu nhập cá nhân (thuế TNCN).

Theo đó, tổ chức, cá nhân trả thu nhập cho cá nhân cư trú không ký hợp đồng lao động hoặc ký hợp đồng lao động dưới 3 tháng, thực hiện khấu trừ theo tỷ lệ thống nhất là 10% đối với thu nhập từ 2 triệu đồng trở lên/lần trả thu nhập.

Ngoài ra, Văn bản cũng hướng dẫn: Thu nhập từ chuyển nhượng cổ phần không phân biệt cổ phần của công ty đại chúng hay chưa phải công ty đại chúng đều là chuyển nhượng chứng khoán; Miễn thuế đối với cá nhân có thu nhập từ chuyển nhượng nhà ở, quyền sử dụng đất ở và tài sản gắn liền với đất ở của cá nhân trong trường hợp người chuyển nhượng chỉ có duy nhất một nhà ở, quyền sử dụng đất ở tại Việt Nam; Các tổ chức, doanh nghiệp có mua hoặc đóng hộ cho người lao động các khoản tiền phí tích luỹ mua bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm không bắt buộc khác, tiền tích luỹ đóng góp quỹ hưu trí tự nguyện thì không cộng các khoản này vào thu nhập chịu thuế trong kỳ để xác định số thuế TNCN phải khấu trừ của cá nhân.

TẢI VĂN BẢN SỐ 8871/BTC-TCT

Kiểm toán bị ép làm sai?

Tại cuộc họp thường niên giám đốc các công ty kiểm toán do Bộ Tài chính phối hợp với Hội Kiểm toán viên hành nghề Việt Nam tổ chức tại Hà Nội hôm 2/7, có một số ý kiến đáng suy ngẫm. Đặc biệt, nổi lên là những băn khoăn của lãnh đạo công ty kiểm toán về việc tới đây, trong quá trình hoàn thiện hệ thống văn bản hướng dẫn Luật Kiểm toán độc lập, cơ quan quản lý sẽ đưa ra một số nhóm DN mà báo cáo kiểm toán không được có ý kiến ngoại trừ.

Hiện có 2 khối DN đang thực thi quy định trên, gồm các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam và các DN đại chúng muốn huy động vốn qua TTCK. Tuy nhiên, việc áp dụng quy định này vào thực tế đã nảy sinh nhiều vấn đề, đi ngược lại với mục tiêu của cơ quan quản lý. Thay vì giúp tăng tính minh bạch của các tổ chức, DN, quy định báo cáo kiểm toán không có điểm ngoại trừ dường như đang trở thành tấm chắn, giúp DN che giấu được những khiếm khuyết, đôi khi rất nghiêm trọng về tình hình tài chính.
Cụ thể, Thông tư 39/2011 của Ngân hàng Nhà nước hướng dẫn về kiểm toán độc lập đối với tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, có quy định, báo cáo kiểm toán của các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam không được có ý kiến ngoại trừ, dù năm 2012, nhiều ngân hàng dây vào kiện tụng, có nhiều khoản nợ khó đòi, cho vay sai chuẩn lên tới hàng nghìn tỷ đồng, nhưng báo cáo tài chính sau kiểm toán vẫn “sạch”. Chỉ ở một số ngân hàng, tổ chức tín dụng, có những vấn đề quá nghiêm trọng, ảnh hưởng lớn tới NĐT, kiểm toán viên mới đưa ra một số “lưu ý” nho nhỏ. Theo quy định và cách hiểu thông thường, báo cáo kiểm toán có ý kiến lưu ý vẫn được xem là một báo cáo kiểm toán “sạch”, báo cáo tài chính vẫn được coi là trung thực, hợp lý.
Kiểm toán viên một công ty kiểm toán thuộc nhóm Big4, người trực tiếp thực hiện kiểm toán cho một ngân hàng có nhiều vấn đề trong năm qua chia sẻ, nếu căn cứ theo chuẩn mực kiểm toán quốc tế thì nhiều khoản mục được lưu ý trong báo cáo kiểm toán lẽ ra phải được xếp vào ý kiến “ngoại trừ”, vì tác động rất lớn của những khoản mục đó đối với hoạt động của ngân hàng và ảnh hưởng đến quyết định của NĐT. Tuy nhiên, với quy định tại Thông tư 39/2011, kết quả là báo cáo kiểm toán của tất cả các tổ chức tín dụng sau 1 năm sóng gió như 2012 đều “sạch”. Đó là chưa kể trong thực tế, việc xuất hiện nhiều quy định “cứu” DN đang góp phần vô hiệu hóa các chuẩn mực kế toán. Đơn cử, NHNN từng có công văn cho phép các tổ chức tín dụng gia hạn nợ đối với các khoản cho Vinashin, Vinalines vay hay quy định lỗ do chênh lệch tỷ giá, DN được hạch toán trong 5 năm của Bộ Tài chính.
Tất nhiên, về phương diện nghề nghiệp, kiểm toán viên vẫn có thể đưa ra ý kiến ngoại trừ đối với những đối tượng này. Nhưng việc kiểm toán viên đưa ra ý kiến ngoại trừ đồng nghĩa với việc DN sẽ phải thuê một công ty kiểm toán khác thực hiện kiểm toán lại từ đầu cho đến khi ra được báo cáo kiểm toán “sạch”. Dĩ nhiên, các công ty kiểm toán chẳng muốn mất đi khách hàng và việc thỏa hiệp trong trường hợp này là điều khó tránh khỏi.

(Theo ĐTCK)

Friday, July 5, 2013

APR bảo trì 44 ngày hay là chiêu scam?


                    Như chúng ta  đã biết trong những ngày qua APR thông báo bị tấn công và cần thời gian để bảo trì. Hôm nay khi truy cập vào APR chúng ta thấy thông báo đếm ngược thời gian bảo trì của web. Có lẽ nhiều bạn cũng có suy nghĩ giống tôi: BẢO TRÌ chỉ là  CHIÊU BÀI của SCAM. Gần đây chiêu này đã được FCM và một số site khác áp dụng. Có thể nói chiêu này nhằm xoa dịu sự phẫn nộ, sự luyến tiếc... cho các thành viên.




Màn hình thông báo bảo trì đen tối như chính số phận APR.





          Giờ đây có lẽ chúng ta NÊN chấp nhận sự ra đi của APR và sẵn sàng đón nhận một chương trình mới. Site nào cũng vậy có khởi đầu và có kết thúc. Không một site nào tồn tại mãi... Vấn đề là thời gian. Với APR cũng vậy người được, người mất. Với các thành viên của APR nếu ai tham gia ngay từ ngày site mới khởi chạy, dù đầu tư hay chơi FREE ( Tính tới nay cũng được nửa năm) thì có lẽ cũng đã kiếm BỘN TIỀN. Chia buồn với những người mới đầu tư, mới tham gia. 


         Người Việt giàu niềm tin và hi vọng. Có lẽ nhiều người cũng như tôi vẫn còn chút niềm tin vào ngày mai tươi sáng của  APR. 44 ngày nữa có lẽ sẽ là một khoảng thời gian dài với những thành viên của APR.