Showing posts with label Bệnh xương khớp. Show all posts
Showing posts with label Bệnh xương khớp. Show all posts

Monday, May 13, 2013

Bệnh đau lưng (chuyên đề 8 bài)

Xem tập hợp 7 bài về Bệnh đau lưng

Sau Nhức đầu thì Đau lưng Lower Back Pain là nguyên nhân thứ nhì gây đau cho mọi người, đặc biệt là với người cao tuổi.. Chăm sóc đau lưng cũng là nguồn phí tổn khá cao, có lẽ chỉ sau các bệnh về tim.

Với nhiều nhà chuyên môn y tế thì Đau Lưng hầu như là một căn bệnh của đời sống gây ra do thói quen bất thường của người bệnh. Vì họ đứng, họ đi, họ nâng nhấc hoặc lôi kéo sự vật nặng không đúng cách, đưa tới nguy cơ tổn thương cho các thành phần của lưng. Khi đã bị một lần thì đau lưng cũng có nguy cơ tái phát. 



Các nhà chuyên môn cũng ước lượng là 80% các trường hợp Đau Lưng có thể phòng ngừa được nếu ta để ý một chút hoặc nếu ta có vài kiến thức căn bản về cột sống.

Lưng là phần dưới của thân mình gồm có 5 đốt xương sống, các gân, dây chằng, cơ bắp để giữ lưng ngay thẳng. Các đốt xương này chịu đựng sức nặng của phần trên của thân mình, cho nên chúng rất dễ tổn thương.

Từ các đốt sống này xuất phát dây thần kinh não tủy. Giữa các đốt sống là đĩa sụn liên hợp giúp cột sống cử động trơn tru.

Đau lưng thường thường gây ra do ba nguyên nhân chính:

- căng cơ bắp-dây chằng trong các hoàn cảnh như mập phì, có thai, người cao tuổi ít vận động, nâng mang vật nặng mà lại dùng sức mạnh của lưng, tư thế không ngay thẳng, nhiều xúc động mạnh…

- thoái hóa đĩa đệm.

- viêm mặt khớp xương.

Ngoài ra, bị chấn thương, u bướu, viêm nhiễm cột sống, nằm ngủ trong vị thế bất thường hoặc nệm quá mềm cũng là nguy cơ gây đau lưng. Nhiều trường hợp phụ nữ với nhũ hoa quá khổ cũng gây ra đau lưng vì lưng chịu một sức nặng ngoài khả năng.

Người cao tuổi thường hay bị đau lưng vì sự thoái hóa cột sống, cơ bắp dây chằng lỏng lẻo, đốt cột sống dễ bị nghiêng vẹo, đè vào dây thần kinh não tủy, gây ra đau. Với các bác, chỉ khom khom di chuyển một chậu cây cảnh hoặc cúi xuống bế đứa cháu nội ngoại cũng dễ dàng ôm lưng nhăn nhó.

Theo các nhà chuyên môn, 80% dân chúng đều bị đau lưng một vài lần nào đó trong cuộc đời. Đau lưng là lý do hàng đầu khiến cho người dưới 45 tuổi phải nghỉ việc.

Đau lưng có thể là cấp tính hoặc kinh niên.

Cấp tính thường kéo dài khoảng 4 tuần lễ còn kinh niên thì liên tục đau, có khi cả dăm ba tháng.

Những cơn đau và cứng khớp thường xảy ra vào buổi sáng sớm và xế chiều. Ban đêm cơn đau khiến người bệnh khó ngủ.

Đau cũng thường thấy ở dưới chân khi đi lại hoặc đứng lâu.



Phòng tránh

Phòng ngừa có mục đích tránh các căng dãn không cần thiết cho cơ bắp và cũng để tăng cường sức mạnh cho các bắp thịt hỗ trợ cột sống.

1.  Khi mang vật nặng, không nên khom lưng xuống để nhấc vật đó lên, mà ngồi xuống, hai tay ôm cầm vật đó rồi từ từ đứng lên qua sức mạnh của đầu gối, như vậy tránh được sự tổn thương cho lưng.

2.  Khi vật nặng nằm ở trên bàn, ta có thể ôm vào bụng hay quay lưng ôm đồ vật vào lưng để mang đi.

3.  Đừng đi giầy gót quá cao, làm xương sống xiêu vẹo, yếu.

4. Giữ dáng điệu ngay ngắn.

5. Khi đứng, bụng thót phẳng , hướng xương chậu về phía sau sẽ giúp phần dưới của cột sống vững hơn. Nếu cần đứng lâu thì đặt một chân lên vật cao khoảng hai tấc để ngả xương chậu về phía sau.

6. Ngồi lâu đều gây nhiều khó chịu cho lưng. Vì thế lâu lâu nên đứng dậy, đi qua đi lại, thư dãn xương lưng. Tránh ngồi trên nệm ghế quá mềm.

7. Nệm xe đều gây đau lưng khi ngồi quá lâu. Nên lót lưng với một cái gối nhỏ và để tay trên vật tựa; kéo ghế gần về phía trước để đầu gối cao bằng hông.

8. Nên ngủ trên nệm cứng; nằm nghiêng, đầu gối co thước thợ hoặc khi nằm ngửa thì lót gối dưới khuỷu chân. Gối cao vừa phải để đầu và mình ngang bằng;

9. Khi cần coi tivi hoặc đọc sách lâu, nên nằm để tránh căng cho xương sống.

10. Quần áo không nên quá bó sát vào người để cơ bắp, xương khớp không bị gò bó..

11. Tập thể dục với các cử động làm thư giãn khớp xương và bắp thịt, tăng cường sức mạnh cho bắp thịt, dây chằng ở lưng.

12. Buổi sáng ngủ dậy, trước khi bước ra khỏi giường nên tập các cử động vẹo người qua lại để thư giãn lưng. Lý do là sau bẩy giờ nằm ngủ, xương khớp, bắp thịt cứng lại, nếu đứng dậy ngay có thể té ngã, gây tổn thương cho lưng và các phần khác của cơ thể.

13. Không hút thuốc lá vì nicotine làm giảm máu lưu thông tới lưng khiến cơ khớp yếu.

14. Giảm cân nếu quá mập, vì mập phì làm mô mềm ở lưng căng cương. Hai phần ba người bị đau lưng kinh niên đều bị béo phì.



Vài cử động để thư dãn cột sống

1. Ðứng thẳng, hai bàn chân xa ngang thân người, úp hai bàn tay lên ngang lưng. Ðầu gối ngay thẳng, ưỡn lưng về phía sau càng xa càng tốt. Giữ nguyên vị trí trong vài ba giây rồi trở lại dáng điệu bình thường. Làm cùng động tác năm lần.

2. Ðứng ngay thẳng, tựa hai tay lên phía sau của thành ghế. Ðầu gối thẳng, dơ một chân về phía sau càng cao càng tốt. Hạ chân xuống từ từ và làm cùng động tác với chân kia. Làm năm động tác liên tiếp cho mỗi chân.

3. Nằm sấp, hai chân duỗi thẳng, khuỷu tay gấp, hai bàn tay úp xuống sàn. Dùng hai tay đẩy thân mình lên càng cao càng tốt, mông và chân vẫn phẳng dưới sàn. Nhắc lại cùng động tác 10 lần.



4. Nằm ngửa, đầu gối gập lại, hai bàn chân để dưới đất. Từ từ nhấc đầu và vai khỏi sàn, hướng hai bàn tay về phía đầu gối, giữ vị trí trong mười nhip đếm rồi nằm thẳng mình trở lại. Nhắc lại cùng cử đông năm lần.

5. Nằm sấp, chân tay đụng mặt bằng. Nâng cao một chân, đếm từ 1 đến 10 rồi hạ chân xuống. Nhắc lại cùng cử động với chân kia. Làm 5 lần mỗi chân.

BS Nguyễn Ý Đức

Wednesday, December 28, 2011

Nhận biết hội chứng đau vai gáy, bàn tay, ngón tay

Đau vai gáy, bàn tay và ngón tay bao gồm nhiều triệu chứng khác nhau thường phổ biến ở người cao tuổi (NCT). Phát hiện và điều trị sớm cũng như áp dụng các biện pháp phòng hội chứng này là rất cần thiết...

Nguyên nhân của hội chứng vai gáy

Hội chứng đau vai gáy, bàn tay, ngón tay có liên quan mật thiết với hiện tượng rối loạn vận mạch và thần kinh cánh tay. Hệ thống vận mạch của chi trên chạy từ nách xuống tận cùng các đầu ngón tay, tập trung chủ yếu là vùng nách và lòng bàn tay. Khi hệ thống này bị rối loạn do xơ cứng mạch máu, tắc mạch hoặc bán tắc mạch máu làm cho máu khó lưu thông sẽ gây nên hiện tượng phù nề, nhất là vùng nách và gan bàn tay, nơi tập trung nhiều mao mạch nhất. Ngoài ra, các rễ thần kinh xuất phát từ mọi khe khớp của đốt sống cổ, nếu bị chấn thương (do thoái hoá đốt sống cổ, hoặc do chấn thương cơ học hoặc cả hai) cũng làm rối loạn cảm giác gây nên hội chứng tê bì vai gáy, bàn tay, ngón tay.

Biểu hiện điển hình của hội chứng vai gáy là đau và tê bì. Khớp vai đau nhiều ở giai đoạn đầu, đau nhức buốt nhưng cơn đau ngắn. Khi bệnh đã kéo dài nhiều ngày, nhiều tháng thì cơn đau kéo dài lâu hơn, nhất là khi khớp vai đã bị xơ hoá, cứng khớp làm hạn chế vận động hoặc vận động rất khó khăn. Bàn tay và ngón tay có thể bị sưng nề do máu không lưu thông được. Sưng nề xảy ra ở mu bàn tay và các khớp bàn tay, khớp ngón tay. Phát hiện sưng nề có thể nhìn thấy mu bàn tay sưng lên, mất hết các nếp nhăn (thấy rõ ở NCT do tế bào da đã và đang bị thoái hoá).

Phát hiện sưng nề của mu bàn tay: Dùng ngón tay cái ấn nhẹ vào mu bàn tay mà phía dưới chỗ ấn có nền xương cứng sẽ thấy da bị lõm. Lõm nhiều hay ít còn tùy thuộc vào mức độ sưng nề của từng người bệnh. Người bệnh cũng luôn có cảm giác bàn tay hơi nặng và nhất là đau tự nhiên hoặc khi cử động. Hội chứng vai gáy, bàn tay, ngón tay còn biểu hiện tê bì, rõ rệt nhất là các ngón tay, đặc biệt là ngón tay trỏ, ngón giữa.

Nguyên tắc điều trị hội chứng vai gáy

Khi nghi mắc hội chứng vai, gáy, bàn tay, ngón tay, nên đi khám càng sớm càng tốt, nhất là khám chuyên khoa xương khớp để được chẩn đoán, điều trị và tư vấn kịp thời. Hằng ngày, nên tập luyện vận động các khớp vai, bàn tay, ngón tay. Cần tập các động tác giơ cao cánh tay lên quá đầu, nhiều lần trong mỗi lần tập và trong ngày nên tập vài ba lần để máu dễ dàng lưu thông về tim, tránh ứ đọng ở chi, đặc biệt là nách và gan bàn tay gây chèn ép, phù nề. Người bệnh cũng nên tập động tác quay cánh tay, nhẹ nhàng, không nóng vội; lần đầu tập nên quay một số vòng để thích ứng dần dần, sau đó tăng dần. Mỗi ngày tập vài ba lần, mỗi lần khoảng 10 phút. Để tránh hiện tượng phù nề, người bệnh có thể dùng một số loại băng chun y tế quấn các ngón tay hoặc bàn tay để ép nhẹ nhàng cho máu lưu thông, không được quấn băng chun chặt quá sẽ phản tác dụng. Người bệnh có thể tự xoa bóp các khớp bàn tay, ngón tay hoặc được sự hỗ trợ của điều dưỡng viên hay người nhà để xoa bóp khớp vai cũng như các khớp bàn tay, ngón tay. Bên cạnh tập luyện thì vấn đề dinh dưỡng cũng như thoải mái tinh thần là rất cần thiết. Người bệnh cần ăn uống đủ chất, để tăng cường các loại sinh tố. Cũng nên ăn nhiều rau quả, ăn cá, nhất là các loại cá nhỏ nấu nhừ để ăn được cả xương làm tăng lượng can-xi trong mỗi bữa ăn. Việc tập luyện cũng như dinh dưỡng hợp lí đối với những NCT chưa bị hội chứng đau vai gáy, bàn tay, ngón tay cũng rất cần thiết bởi vì với NCT, sức đề kháng cũng như mọi chức năng của cơ thể giảm đi. Tập vận động cánh tay, khớp vai, bàn tay, ngón tay cũng như tập vận động đốt sống cổ đều đặn hằng ngày có thể tránh mắc phải hoặc hạn chế hội chứng vai gáy, bàn tay, ngón tay ở NCT.

Quý Nhân Sưu tầm và giới thiệu
Theo báo người cao tuổi

A-xít u-rích máu cao, nên ăn gì?

Có thể nói, nguyên nhân trực tiếp gây bệnh gút là a-xít u-rích.

Khi lượng a-xít u-rích trong máu tăng cao thì sẽ lắng đọng ở một số tổ chức và cơ quan dưới dạng tinh thể, đặc biệt là ở khớp mà gây ra bệnh gút. Bởi vậy, một trong những biện pháp quan trọng để phòng chống a-xít u-rích trong máu tăng cao là nên chọn dùng các thực phẩm không hoặc ít có nhân pu-rin và có công dụng tăng cường đào thải a-xít u-rích qua đường tiết niệu. Bài viết sau xin giới thiệu với độc giả một số thực phẩm thông dụng.

Rau cần: Cần trồng dưới nước tính mát, vị ngọt có công dụng thanh nhiệt lợi thủy. Cần trồng trên cạn tính mát, vị đắng ngọt, có công dụng thanh nhiệt, khu phong và lợi thấp. Cả hai loại đều có thể dùng, đặc biệt tốt trong giai đoạn gút cấp tính. Rau cần rất giàu các sinh tố, khoáng chất và hầu như không chứa nhân pu-rin. Có thể ăn sống, ép lấy nước uống hoặc nấu canh ăn hằng ngày.

Xúp lơ: Là một trong những loại rau rất giàu sinh tố C và chứa ít nhân pu-rin (mỗi 100g chỉ có dưới 75 mg). Theo dinh dưỡng học cổ truyền, xúp lơ tính mát, vị ngọt, có công dụng thanh nhiệt, lợi tiểu và thông tiện nên là thực phẩm rất thích hợp cho người có a-xít u-rích máu cao.

Dưa chuột: Là loại rau kiềm tính, giàu sinh tố C, muối ka-li và nhiều nước. Muối ka-li có tác dụng lợi niệu nên người bị gút cần ăn nhiều dưa chuột. Theo dinh dưỡng học cổ truyền, dưa chuột tính mát, vị ngọt, có công dụng thanh nhiệt lợi thủy, sinh tân chỉ khát và giải độc nên loại rau có khả năng bài tiết tích cực a-xít u-rích qua đường tiết niệu.

Cải xanh: Cũng là loại rau kiềm tính, giàu sinh tố C, muối ka-li và hầu như không chứa nhân pu-rin. Cải xanh có tác dụng giải nhiệt trừ phiền, thông lợi tràng vị. Sách Trấn nam bản thảo cho rằng, cải xanh còn có tác dụng “lợi tiểu tiện”, rất thích hợp với người bị thống phong (bệnh gút).

Cà: Cà pháo, cà bát, cà tím... đều có tác dụng hoạt huyết tiêu thũng, khứ phong thông lạc, thanh nhiệt chỉ thống. Đây cũng là loại thực phẩm kiềm tính và hầu như không chứa nhân pu-rin. Nghiên cứu hiện đại cho thấy, cà còn có tác dụng lợi niệu ở một mức độ nhất định.

Cải bắp: Là loại rau hầu như không có nhân pu-rin, rất giàu sinh tố C và có tác dụng lợi niệu. Sách Bản thảo cương mục thập di cho rằng cải bắp có công dụng “bổ tinh tủy, lợi ngũ tạng lục phủ, lợi quan tiết (có ích cho khớp), thông kinh hoạt lạc” nên là thực phẩm rất tốt cho người có a-xít u-rích máu cao.

Củ cải: Tính mát, vị ngọt, có công dụng “lợi quan tiết”, “hành phong khí, trừ tà nhiệt” (Thực tính bản thảo), “trừ phong thấp” (Tùy tức cư ẩm thực phổ), rất thích hợp với người bị phong thấp nói chung và thống phong nói riêng. Đây cũng là loại rau kiềm tính, giàu sinh tố, nhiều nước và hầu như không có nhân pu-rin.

Ngoài ra, người có a-xít u-rích máu cao cũng nên trọng dụng các thực phẩm khác như cà rốt, cà chua, măng, mướp, dưa gang, cải trắng, mã thầy, hành tây, mía, chuối, cam, quýt, đào, hạnh đào, mơ, hạt dẻ... Tăng lượng nước uống để kích thích thải a-xít u-rích ra ngoài. Nên kiêng hoặc hạn chế các thực phẩm có chứa nhiều nhân pu-rin như phủ tạng động vật (gan, thận, não, tụy...), thịt lợn, thịt dê, thịt bò, thịt cừu, thịt gà... những thực phẩm giàu đạm từ động vật. Không dùng các đồ ăn, thức uống có tính kích thích như nước trà đặc, cà phê, rượu trắng, hạt tiêu, hồi, quế, ớt... Người bị gút nặng, a-xít u-rích máu tăng quá cao nên ăn chay theo chu kì như ngày ăn táo, ngày ăn dưa chuột, ngày ăn rau xanh để hỗ trợ điều trị bệnh. Nếu ăn táo hoặc dưa chuột, mỗi ngày ăn 1,5 kg chia 3 - 4 bữa; nếu ăn rau xanh, mỗi ngày 1,5 kg chia nhiều bữa dưới các dạng nấu, xào hoặc làm nộm.

Thư Kỳ (St)
Theo Báo Người cao tuổi

Sunday, October 23, 2011

Cẩn thận, thuốc gây... loãng xương

Bệnh loãng xương là hiện tượng tăng phần xốp của xương do giảm số lượng tổ chức xương, giảm trọng lượng trong một đơn vị thể tích mà hậu quả là gãy xương một cách tự nhiên hoặc sau một chấn thương rất nhẹ, đặc biệt là sự lún một hay nhiều đốt sống gây biến dạng cột sống. Có rất nhiều nguyên nhân gây ra tình trạng loãng xương, trong đó có nguyên nhân do thuốc nhưng lại chưa nhận được sự quan tâm đúng mức của cả thầy thuốc lẫn bệnh nhân.

Glucocorticoid (GC)

Sử dụng GC liều cao trong thời gian dài sẽ ức chế chiều cao của trẻ em do GC ức chế tác dụng làm phát triển xương và sụn của somatomadin C. Để giảm hậu quả của tác dụng này nên hạn chế việc kê đơn GC cho trẻ em. Nếu phải dùng thì dùng liều thấp có hiệu quả và trong thời gian ngắn nhất.

Đối với người trưởng thành, Ở liều sinh lý GC có tác dụng tích cực trên chuyển hóa calci và xương, nhưng ở liều điều trị và dùng kéo dài sẽ gây mất xương. Có đến 30-50% bệnh nhân bị gãy xương không có chấn thương khi sử dụng GC liều cao và kéo dài. Đó là do GC làm tăng tiêu xương (tăng chức năng hủy cốt bào) là tác dụng phức tạp và có liên quan đến liều dùng. Người cao tuổi và phụ nữ sau mãn kinh có nguy cơ gãy xương cao. Có sự hoại tử xương không do nhiễm khuẩn và teo cơ là tác dụng phụ nguy hiểm nhất do GC, thường xảy ra ở đầu xương cánh tay hay đầu xương đùi, gây đau dữ dội và giảm cử động. Để giảm thiểu tai biến gãy xương do GC nên giảm liều đến mức thấp nhất nếu có thể và giảm thời gian sử dụng thuốc. Sử dụng thuốc cách ngày dường như không làm giảm sự mất xương. Bổ sung canxi, vitamin D trong thời gian dùng thuốc. Điều trị thay thế estrogen cho phụ nữ sau mãn kinh nếu không có chống chỉ định. Trong trường hợp loãng xương có thể điều trị bằng calcitonin và bisphosphat. Nên theo dõi tỉ trọng xương cho tất cả các bệnh nhân sau 6 tháng sử dụng GC.

Thuốc ức chế bơm proton trị bệnh dạ dày tá tràng

Gần đây, Cơ quan quản lý thuốc và thực phẩm Hoa kỳ (FDA: Food and Drug Administration) đưa ra cảnh báo với các bác sỹ và bệnh nhân khi sử dụng thuốc ức chế bơm proton liều cao hoặc kéo dài trên một năm, sẽ làm gia tăng nguy cơ gãy xương chậu, xương cổ tay và xương cột sống. Chính vì vậy, FDA khuyến cáo các bác sỹ cũng như bệnh nhân cần cân nhắc giữa lợi ích và nguy cơ khi sử dụng thuốc này, từ đó đưa ra thời gian điều trị và liều điều trị thích hợp.

Các thuốc chống động kinh

Thuốc chống động kinh làm tăng enzym hydroxylase, oxylase ở gan, khiến cho vitamin D không chuyển thành dạng hoạt tính giúp cho việc hấp thu chuyển hóa canxi, nên gây hạ canxi máu. Khi canxi máu hạ, sẽ xảy ra quá trình tiêu hủy xương. Riêng phenobarbital còn ức chế quá trình lắng đọng canxi vào khung xương gây trở ngại cho việc tạo xương. Khi cần dùng thuốc chống động kinh lâu dài, phải chủ động bổ sung canxi, vitamin D dạng hoạt tính; định kỳ kiểm tra mức canxi phospho, enzym phophatase kiềm trong máu.

Các thuốc chống trầm cảm

Theo dõi thấy mức độ giảm mật độ xương (sau 3 năm dùng) ở nhóm thuốc chống trầm cảm ba vòng là 0, 47%, ở nhóm ức chế thu hồi chọn lọc serotonin (SSRI) là 0,82% (gấp đôi). Do đó khi phải dùng nhóm SSRI cần theo dõi cẩn thận, lúc bệnh ổn định có thể tạm ngừng thuốc.

Một số thuốc chống đông máu

Heparin ức chế enzym, giảm sự hợp thành collagen-xương; giảm vitamin D trong máu, gây trở ngại việc hấp thu canxi dẫn tới hạ canxi máu, tăng quá trình hủy xương; đồng thời gây trở ngại cho quá trình tạo xương.

Nhóm coumarin (đặc biệt warfarin) đi qua hàng rào nhau thai gây loạn dưỡng sụn xương, hại cho sự phát triển xương thai nhi; người cho con bú dùng heparin thì có thể bị loãng xương chi sau 2 - 4 tuần.

Vì vậy khi bắt buộc phải dùng heparin, warfarin cần theo dõi cẩn thận, nếu có bất lợi về xương thì ngừng thuốc.

Các dạng vitamin A

Các dạng vitamin A kích thích hoạt động các tế bào hủy xương, tăng sự tiêu xương, hình thành xương màng. Từ đó, giảm mật độ xương, làm cho xương thiếu độ chắc, kém sức chịu lực, dễ gãy. Vì vậy tránh dùng kéo dài thuốc có hàm lượng cao vitamin A cho trẻ, cho người già.

Thuốc chữa loãng xương

Trong các thuốc chữa loãng xương cần chú ý đến biphosphonat. Đây là thuốc hay dùng, tuy nhiên, theo các nghiên cứu ở Thụy Điển, Canada và sau này là khuyến cáo của FDA cho thấy khi sử dụng biphosphonat có nguy cơ gây gẫy xương đùi không điển hình và gây hủy xương hàm. Vì vậy cần hạn chế việc dùng biphosphonat uống kéo dài; nếu cần thì dùng từng đợt cách quãng, mỗi đợt 5 - 6 tháng. Khi dùng biphosphonat tiêm hay uống, nếu thấy có các biểu hiện ban đầu như ê răng tại chỗ, đau hàm mặt, nhức răng, đau ở hàm răng, nhiễm khuẩn lặp lại ở mô mềm, hôi miệng... thì cần ngừng thuốc; không được nhổ răng khi đang dùng thuốc vì nhổ răng làm tăng nguy cơ hủy xương hàm.

ThS.Nguyễn Vân Anh

Monday, July 18, 2011

Thuốc chống loãng xương gây hại xương

Bisphosphonate là thuốc làm giảm loãng xương, gia tăng sức khoẻ cho hệ xương nhưng lại gây ra gãy xương. Trong các tác dụng phụ do thuốc bisphosphonate gây ra thì gãy xương đùi là tác hại đáng ngại nhất. Ðây cũng là một tác dụng phụ mới được thông báo gần đây…

Bisphosphonate chống loãng xương như thế nào?

Bisphosphonate là thuốc chống loãng xương. Đây là một thuốc khá công hiệu và được dùng rộng rãi trong lâm sàng để khống chế căn bệnh của hầu như mọi phụ nữ sau mãn kinh và những người không đủ canxi trong khẩu phần ăn.

Trong xương có hai loại tế bào chính: tạo cốt bào (tế bào tạo ra xương) và hủy cốt bào (tế bào tiêu xương). Có nhiều yếu tố gây ra loãng xương nhưng một trong những yếu tố đó là sự hoạt động quá mạnh của tế bào tiêu xương và giảm chức năng tế bào tạo xương. Bisphosphonate là thuốc khắc phục được nhược điểm này bằng cách gắn chặt với canxi trên bề mặt xương (“thức ăn” của tế bào huỷ xương), nên ức chế sự phát triển của tế bào hủy xương, làm giảm hoạt động chức năng và đồng thời làm tế bào này nhanh chóng đi vào con đường “chết theo chu trình sinh học”. Một cách gián tiếp, nó lại kích thích tế bào tạo xương và do đó, loãng xương được cải thiện.

Do có sự điều chỉnh nhỏ trong nhóm chức hoá học nên bisphosphonate có nhiều loại như alendronate, clodronate, etidronate, pamidronate, risedronate, tiludronate và zoledronate… Những thuốc này đặc biệt được chỉ định ở những phụ nữ mãn kinh. Chỉ có điều, ở liều cao, các thuốc này lại gắn chặt với tinh thể Ca3PO4 (canxi phosphat), đây là trở ngại sẽ gây ra những tác hại không mong muốn của thuốc.


* Gãy xương đùi là biến chứng đáng lưu ý khi sử dụng bisphosphonate.

Tốt nhiều nhưng hại cũng nhiều

Nằm trong danh mục là một thuốc hỗ trợ tốt trong chứng bệnh loãng xương và các bệnh tương tự, nhưng thuốc cũng gây ra nhiều tác dụng phụ không tốt, thậm chí nhiều bệnh nhân phải từ chối điều trị tiếp. Các tác dụng phụ thường gặp là sốt, đau đầu, giảm canxi huyết, giảm phốt pho huyết, giảm magiê huyết.

Trên hệ tiêu hóa, thuốc đã được ghi nhận là gây ra những tổn thương ở thực quản với nhiều dạng tổn thương khác nhau với nhiều cấp độ. Nhẹ thì người bệnh bị viêm thực quản, nặng thì bị loét thực quản. Đây là những bệnh lý tiền đề gây ra ung thư hóa hay thủng thực quản. Với các tác hại này, người bệnh thấy bỏng rát ở sau xương ức, đau tức ngực, hay ợ hơi, buồn nôn, rối loạn tiêu hoá thất thường. Tác dụng phụ này đã được thông báo là gặp ở clodronate nhiều nhất, khi dùng với liều 800mg/ngày.

Trên xương khớp, nhóm thuốc này gây ra đau xương khớp với tỷ lệ cao, 75% những người dùng thuốc có triệu chứng. Hiện tượng đau khởi phát ngay sau 12 giờ dùng thuốc và có thể kéo dài nhiều ngày sau đó. Đau thường ở trong xương cột sống đầu tiên, sau đó đến đau xương sườn và rồi đến xương chân tay. Mức độ đau nghiêm trọng đến nỗi người bệnh không thể đi lại được và phải nằm ở trên giường. Trong trường hợp này, các thuốc giảm đau như ibuprofen hoặc paracetamol không hoặc ít có tác dụng điều trị hoặc giảm đau.

Song trong các tác dụng phụ đáng để nói thì tác dụng phụ gây ra gãy xương đùi là tác dụng đáng chú ý nhất và lại là nghịch lý nhất. Nghịch lý là vì đây là thuốc làm giảm loãng xương, tức là gia tăng sức khoẻ cho hệ xương, vậy mà lại gây ra gãy xương. Thực ra, xét về mặt bản chất thì điều này đã được các nhà nghiên cứu cảnh báo trước khi dùng thuốc liều cao hoặc kéo dài. Vì khi đó thuốc lại gắn kết với canxi trong máu làm giảm sự canxi hóa trong xương, xương không thể chắc được.

Kiểm định điều này, một nhóm các nhà khoa học tại Canada đã theo dõi 716 phụ nữ bị gãy xương đùi tuổi trên 68, ở Ontario. Các nhà khoa học thấy rằng đồng loạt những bệnh nhân này đều sử dụng bisphosphonates trên 5 năm. So sánh với những bệnh nhân có dùng bisphosphonates nhưng chỉ trong thời gian ngắn và không liên tục, các nhà khoa học thấy nhóm dùng liều cao bisphosphonates có tỷ lệ gãy xương khác biệt. Tuy nhiên, không thể tự nhiên xương gãy hoặc sự gãy xương cũng có nhiều yếu tố khác tham gia như lực chấn thương, ngã chẳng hạn. Nhưng trên cơ sở đánh giá yếu tố nguy cơ tổng hợp, các nhà khoa học kết luận bước đầu, so với những phụ nữ mãn kinh chỉ uống thuốc tối đa 3 tháng liên tục thì nguy cơ gãy xương ở những phụ nữ uống liên tục trên 5 năm cao hơn những 2,74 lần. Tai biến này là tai biến cần chú ý nhất với cả người bệnh và bác sĩ.

Những điều nên làm

Đứng trước những rủi ro có thể xảy ra, nên hạn chế sử dụng thuốc tiêm cho bệnh nhân vì thuốc tiêm có nguy cơ cao các biến chứng về thần kinh như đau đầu, biến chứng về tiêu hoá như loét thực quản, biến chứng trên xương khớp như đau dữ dội trong xương. Để giảm nồng độ thuốc trong cơ thể, nên sử dụng liệu trình ngắn, kết hợp nhắc lại không liên tục. Thời gian tối đa có thể sử dụng chỉ nên dừng lại từ 3-5 tháng. Không nên sử dụng kéo dài hàng năm vì có thể gây ra gãy xương.

Vì nhóm thuốc này có nhiều loại thuốc, vì thế hãy lựa chọn những thuốc an toàn hơn. Ví dụ, etidronate gây giảm tỷ trọng xương nhiều hơn alendronate. Song với những người bị tiền sử viêm loét dạ dày - tá tràng thì nên chọn etidronate vì đây lại là thuốc ít gây tác dụng phụ trên hệ tiêu hoá nhất.

BS. Nguyễn Phúc Anh

Wednesday, May 25, 2011

Ăn lá lốt trị được bệnh gút?

Gần đây một số người mắc bệnh gút (gout) đã chỉ nhau kinh nghiệm ăn các món có lá lốt để điều trị căn bệnh vốn được cho là “bệnh của nhà giàu” này. Một số thuốc đông y điều trị bệnh gút cũng đã đưa vào quảng cáo thông tin có tinh chất lá lốt, như một thành phần nổi trội của thuốc. Có hay không công dụng này của lá lốt?

Loại rau ăn “kiêm” vị thuốc

Cây lốt, còn gọi tất bát, có tên khoa học Piper lolot, thuộc họ Hồ tiêu – Piperaceae. Cây thường được trồng bằng cách giâm cành nơi ẩm ướt, dọc bờ nước để lấy lá làm gia vị, ăn sống như các loại rau, hoặc làm thuốc. Lá lốt có hình tim, năm gân chính toả ra từ cuống lá.

Một số cách chế biến món ăn với lá lốt được ưa thích: luộc chấm nước mắm tỏi, gừng; xào với thịt bò, thịt heo, các loại hải sản; xắt sợi như cọng chỉ, nặn chanh vào ăn sống; nấu canh với các loại nhuyễn thể như: ngao, sò, ốc, hến… Đặc biệt, món canh lá lốt nấu với cá là món ăn bổ dưỡng, giúp người già có thể ăn được nhiều cơm, đồng thời chống đỡ được một số bệnh tật.

Theo kết quả nghiên cứu hiện đại, lá và thân cây lốt chứa các chất ancaloit, flavonoid và tinh dầu, với thành phần chủ yếu là beta-caryophylen; rễ cũng có chứa tinh dầu nhưng thành phần chính là benzylaxetat. Lá lốt có tác dụng kháng khuẩn, chống viêm và giảm đau.
Trong y học cổ truyền, lá lốt có vị nồng, hơi cay, tính ấm, công dụng ôn trung (làm ấm bụng); tán hàn (trừ lạnh); hạ khí (đưa khí đi xuống); chỉ thống (giảm đau); yêu cước thống (đau lưng, đau chân), tỵ uyên (mũi chảy nước tanh thối kéo dài), trị nôn mửa, đầy hơi, khó tiêu...
Kinh nghiệm dân gian thường dùng lá lốt đơn lẻ hoặc phối hợp với một số vị thuốc khác như rễ cỏ xước, lá xương sông, rễ bưởi bung... sắc lấy nước uống hoặc ngâm tay chân để chữa các chứng đau nhức xương khớp, đau vùng ngực và bụng do lạnh; chứng ra nhiều mồ hôi tay, chân; mụn nhọt, đau đầu, đau răng…

Người bệnh gút có thể dùng lá lốt

Mặc dù lá lốt có nhiều công dụng trong y học cổ truyền nhưng cho đến nay chưa thấy có y thư cổ nào đề cập đến việc dùng lá lốt để trị liệu thống phong – chứng bệnh mà y học hiện đại gọi là bệnh gút. Trên thực tiễn lâm sàng ở các bệnh viện y học cổ truyền, cũng chưa thấy công trình nghiên cứu nào khảo sát và chứng minh công dụng này.

Các thông tin mà nhiều người cho rằng nhờ ăn lá lốt đã có người khỏi bệnh gút hoặc bớt đau nhức do bệnh gút gây ra có thể chỉ là kinh nghiệm đơn lẻ ở một địa phương hoặc của một số bệnh nhân nào đó. Đây cũng là vấn đề gợi mở lý thú để các nhà y học đi sâu tìm hiểu, nghiên cứu và chứng minh khả năng phòng chống bệnh gút của loại cây dân dã này.

Xét về tính hợp lý trong điều trị, với tác dụng kháng khuẩn, chống viêm và giảm đau khá tốt, dùng lá lốt để hỗ trợ trị liệu bệnh gút cũng có thể chấp nhận được. Đến nay cũng chưa thấy có báo cáo nào ghi nhận những tác hại nguy hiểm của những bài thuốc dân gian có dùng lá lốt.
Cuối cùng, cần nhấn mạnh một điều, nguyên tắc điều trị với bệnh gút là phải dùng thuốc để trung hoà, giảm tổng hợp axít uric trong cơ thể. Quá trình điều trị chỉ kiểm soát được bệnh chứ không chữa khỏi bệnh. Nhiều người bệnh không hiểu điều này, cứ nghĩ phải có một loại thuốc nào đó chữa khỏi hẳn và nôn nóng đi tìm. Nhiều loại thuốc không rõ nguồn gốc, quảng cáo chữa được bệnh gút thực chất chỉ giúp bệnh nhân giảm cơn đau trước mắt chứ bệnh vẫn còn đó và vào một ngày đẹp trời nào đó, cơn đau có thể quay lại.

Chỉ nên ăn tối đa 100g lá lốt mỗi ngày

Lá lốt có thể dùng tươi, phơi hay sấy khô. Như bất kỳ vị thuốc nào, đều cần phải dùng đúng liều. Lạm dụng, thuốc bổ cũng thành độc. Vì vậy mỗi người chỉ nên ăn từ 50 – 100g lá lốt mỗi ngày. Lưu ý, những người đang bị vị nhiệt táo bón (biểu hiện lợi hàm sưng đỏ; lưỡi khô; môi nẻ; đi tiêu khó khăn, nóng bức trong người...) không nên dùng lá lốt.

Hai bài thuốc với lá lốt

Đau nhức xương khớp: lấy 5 – 10g lá lốt phơi khô, sắc hai bát nước còn nửa bát, uống trong ngày. Uống khi thuốc còn ấm, sau bữa ăn tối, trong vòng mười ngày.

Ra nhiều mồ hôi tay, chân: lá lốt tươi 30g, rửa sạch, để ráo, cho vào nồi cùng một lít nước, đun sôi khoảng ba phút. Khi sôi cho thêm ít muối, để ấm, dùng ngâm hai bàn tay, hai bàn chân trước khi đi ngủ tối. Thực hiện liên tục trong 5 – 7 ngày.

ThS.BS Võ Thị Thu
Giảng viên bộ môn đông y,
học viện Y dược học cổ truyền Việt Nam

Theo SGTT – Thứ hai, ngày 02 tháng năm năm 2011

Cách nhận biết lao cột sống

Trong hội chứng đau lưng, ngoài thoái hóa cột sống còn có một nguyên nhân khác vô cùng quan trọng và nguy hiểm đó là lao cột sống

Bệnh có thể chữa khỏi hoàn toàn nếu được phát hiện sớm và điều trị kịp thời.

Lao cột sống chủ yếu gây tổn thương ở đĩa đệm và thân đốt sống, rất ít khi gây tổn thương ở cung sau. Bệnh có thể xảy ra sau khi mắc bệnh lao phổi, lao hạch và cũng có thể xuất phát từ lao cột sống.
Đau lưng có thể do lao cột sống

Lao cột sống là một bệnh nhiễm trùng do vi trùng lao cho nên luôn có những biểu hiện về nhiễm trùng, nhiễm độc như mệt mỏi, chán ăn, gầy sút, sốt về chiều. Ngoài ra, lao cột sống còn có những biểu hiện riêng về cột sống. Ở giai đoạn sớm của bệnh, triệu chứng chủ yếu là đau tại chỗ đốt sống bị tổn thương, đến giai đoạn sau cơn đau sẽ lan theo rễ thần kinh tương ứng, đau có xu hướng tăng dần và đau nhiều khi đi lại, mang vác vật nặng, thậm chí khi ho hay hắt hơi.

Khi nằm nghỉ thì đỡ đau, cơn đau không đáp ứng với các thuốc giảm đau thông thường, sờ vào cột sống nơi có điểm đau thì người bệnh sẽ bị đau nhói. Người bệnh sẽ bị dấu hiệu “đơ cột sống” và hạn chế vận động, các cơ vùng cạnh cột sống bị co cứng. Nếu không được phát hiện, bệnh sẽ chuyển sang giai đoạn toàn phát, trong giai đoạn này đĩa đệm và cột sống sẽ bị phá hủy nặng thêm, đồng thời tạo thành ổ áp-xe lạnh quanh vùng bị tổn thương.

Lúc này người bệnh tỏ ra đau đớn ở vùng đốt sống bị tổn thương, đau liên tục, tại đốt sống bị tổn thương sẽ lồi ra phía sau làm cho cột sống có thể bị lệch vẹo và làm hạn chế vận động. Tùy theo vị trí đốt sống bị tổn thương sẽ xuất hiện triệu chứng thần kinh khác nhau như: liệt hai chi dưới, liệt ngoại vi và mất cảm giác ở hai chi dưới, rối loạn cơ vòng gây tiêu tiểu không tự chủ, rối loạn dinh dưỡng nặng nề ở hai chi dưới gây teo cơ.

Các xét nghiệm cần làm

Chụp X-quang cột sống có thể cho thấy rõ hình ảnh tổn thương lao. Đó là đĩa đệm bị hẹp lại, nếu ở giai đoạn muộn thì các thân đốt sống dính sát lại với nhau, bờ thân đốt sống phía trên và dưới đĩa đệm bị phá hủy tạo hang lao, thân đốt sống bị xẹp, nhất là ở phía trước, mỏm gai của đốt sống đó lồi ra phía sau và làm cho cột sống bị vẹo, người bệnh bị gù lưng. Đặc biệt, trên phim X-quang còn có thể phát hiện được các ổ áp-xe lạnh nếu có bằng hình ảnh bóng mờ của túi áp-xe lạnh.

Hình ảnh X-quang trên bệnh lao cột sống khác với tổn thương trong bệnh ung thư. Trong bệnh ung thư tổn thương chủ yếu ở đốt sống chứ đĩa đệm không hề bị tổn thương, vì vậy không thấy hình ảnh của xẹp đĩa đệm và dính các đốt sống, còn tổn thương do lao có sự phá hủy xương. Ngoài ra, còn dựa vào các xét nghiệm khác như tốc độ lắng máu, phản ứng lao tố để giúp xác định bệnh.

Điều trị

Đối với người cao tuổi khi có những dấu hiệu nghi ngờ hoặc đau lưng kéo dài, không đáp ứng với các loại thuốc giảm đau thông thường nên đến bác sĩ chuyên khoa lao đểđược xác định chẩn đoán và điều trị kịp thời, vì bệnh lao cột sống là một bệnh để lại di chứng về cột sống rất nặng nề như gù vẹo cột sống, liệt chi dưới…

Lao cột sống là một bệnh nhiễm trùng nên việc điều trị không khó mà hiệu quả của nó rất cao, nếu được chẩn đoán sớm, điều trị kịp thời sẽ hạn chế tối đa các di chứng của bệnh. Lao cột sống là một bệnh được điều trị trong chương trình chống lao quốc gia, cho nên khi mắc bệnh lao người bệnh nên đến các bệnh viện chuyên khoa lao để điều trị mà không phải mất tiền thuốc.

Để điều trị tốt bệnh lao cột sống, ngoài việc dùng thuốc đặc trị lao theo phác đồ của chương trình chống lao quốc gia, người bệnh còn được dùng thuốc giảm đau, các loại vitamin, đặc biệt phải tăng cường các chất dinh dưỡng, đảm bảo đầy đủ năng lượng cho cơ thể.

Nếu phát hiện trong giai đoạn còn sớm, bệnh còn nhẹ người bệnh chỉ cần nằm nghỉ ngơi, bất động cột sống tại giường mà không cần bó bột cột sống. Nếu bệnh đã vào giai đoạn nặng thì cần phải bất động cột sống bằng các hình thức hỗ trợ như máng bột. Ngoài ra, phải thường xuyên cho người bệnh tập vận động, xoa bóp chân tay để tránh teo cơ, cứng khớp.

Theo BS. Hồ Văn Cưng
Sức khỏe đời sống

Chăm sóc gãy xương cho người cao tuổi

Chăm sóc và điều trị gãy xương cho người cao tuổi

Sau nhiều năm lao động, làm việc, hệ thống xương khớp của người cao tuổi thoái hóa dần. Xương giòn vì chất collagen, chất đạm giảm đi, vỏ xương mỏng (do thiếu canxi), ăn uống kém, tuần hoàn suy giảm do ảnh hưởng của các bệnh khác như tim mạch, tiểu đường, gan mật. Chỉ cần một lực tác động nhẹ cũng có thể làm gãy xương; và nếu không xử trí và chăm sóc đúng, các cụ có thể nhanh chóng kiệt sức.
Người cao tuổi thường bị gãy xương trong các tình huống dưới đây:

- Trượt do sàn nhà, sàn nước, nhà vệ sinh trơn (tình huống thường gặp nhất). Chân người cao tuổi không đủ sức chống đỡ nên dễ bị ngã. Tư thế ngã thường là đập mông, đập hông, chống tay, chống khuỷu.

- Ði vấp ngã bậc thềm, bậc thang, ngã đập gối xuống đất.

- Tối ngủ trở mình ngã xuống giường. Thậm chí sáng ngủ dậy xoay người đứng lên cũng có thể làm gãy xương.

- Ngã ngồi do hụt chân, ngã xe, bị va chạm nhẹ. Hai mông đập xuống đất, người cúi gập xuống đất.

- Ngoài ra người cao tuổi còn có thể gặp những tai nạn giống như ở các lứa tuổi khác, tuy với cùng lực chấn thương nhưng sẽ bị nặng hơn. Nhiều khi lực chấn thương không mạnh cũng có thể làm gãy xương. Ví dụ đi bộ, đi xe đạp bị va quẹt nhẹ, bị trẻ con chạy chơi xô ngã...

Vị trí gãy xương thường gặp

- Chi trên: Gãy đầu dưới xương quay thường do ngã chống bàn tay. Gãy cổ phẫu thuật cánh tay thường do ngã đập vai hay chống khuỷu. Có người ngã chống bàn tay, khuỷu duỗi thẳng làm gãy cả hai nơi (đầu dưới xương quay lẫn đầu trên xương cánh tay).

- Chi dưới: Gãy cổ xương đùi do ngã đập hông, đập mông. Gãy xương bánh chè do ngã đập gối. Gãy ngón chân do đi vấp ngã, va quệt bậc thang, chân bàn, chân ghế. Ở bàn chân có một vị trí hay bị bỏ sót là gãy nền xương bàn 5. Cơ chế chấn thương chỉ đơn giản là bị lật nhẹ bàn chân hay cổ chân. Sau đó thấy đau hoặc chỉ sưng mu bàn chân. Cảm giác khó chịu ở cạnh ngoài bàn chân (dọc theo bờ ngón út). Nhiều người ban đầu tưởng bong gân nên xức dầu nóng, bó thuốc, nắn trật. Sau nhiều ngày vẫn không hết sưng mới đến bệnh viện chụp phim X-quang và phát hiện gãy xương.

- Cột sống và khung chậu: Gãy đốt sống thắt lưng thứ 3, thứ 4, thứ 5 hoặc xương tọa khi bị ngã ngồi đập mông xuống đất. Cũng có lúc ngã ngả lưng ra sau cấn trúng vật cứng như cạnh bàn, cạnh tủ, bậc thang, lan can... gây chấn thương trực tiếp vào cột sống thắt lưng. Thường gặp ở những người cao tuổi bị loãng xương trung bình hay nặng.

Người già gãy xương khác người còn trẻ

Gãy xương làm nạn nhân rất đau và không thể cử động bình thường phần chi bị gãy. Ở người cao tuổi, nhiều khi không thấy đau ngay mà thường về khuya mới bị nhức xương. Dấu hiệu bầm máu cũng có thể không thấy ngay mà sau nửa ngày mới có thể phát hiện vì nó xuất hiện chậm, hoặc ẩn sau lớp áo quần nên người nhà không thấy.

Người cao tuổi có thể gãy xương nhiều nơi nhưng chỉ đau ở một nơi nặng nhất; những nơi còn lại sẽ đau khi nơi kia đã được điều trị ổn. Vì thế cần kiểm tra X-quang toàn diện và kiểm tra lại sau đó vài ngày để chắc chắn không bị bỏ sót tổn thương.

Nhiều người cao tuổi do xương gãy không di lệch nhiều nên có thể cử động được phần chi bị đau. Do đó người nhà hay ngay cả một số bác sĩ có thể nghĩ rằng không bị gãy xương. Ðã có nhiều trường hợp ngã xe đạp gãy cổ xương đùi nhưng nạn nhân vẫn có thể đạp xe về nhà sinh hoạt bình thường trong ngày hôm đó. Sáng hôm sau mới thấy đau nhiều và sưng. Vào bệnh viện chụp phim thấy xương gãy đã bị di lệch. Người nhà rất thắc mắc.

Thật ra nạn nhân gãy xương dạng không di lệch (nứt xương). Nhưng nếu không phát hiện sớm, tiếp tục cử động, ổ gãy sẽ bị vỡ ra và di lệch. Ðiều này có ý nghĩa tổn thương đã chuyển từ mức độ nhẹ sang mức độ nặng. Hậu quả là nạn nhân phải phẫu thuật thay khớp nhân tạo vì chỏm xương đùi bị hư.

Lưu ý khi điều trị gãy xương cho người cao tuổi

Sự lành xương ở người cao tuổi chậm hơn người trẻ. Hơn nữa, người cao tuổi thường ăn uống kém (do bộ máy tiêu hóa đã yếu nhiều, cơ thể ít vận động hơn, nạn nhân luôn luôn cần sự trợ giúp) cùng tâm lý cực đoan (hoặc thổi phồng bệnh tật của mình, hoặc buông xuôi, bất cần vì không muốn làm phiền người thân).

Vì thế không nên áp dụng cứng nhắc chế độ điều trị gãy xương ở người trẻ cho người cao tuổi vì đặc điểm cơ thể của họ khác nhau. Nhiều người cao tuổi thích tìm đến sự điều trị đơn giản như bó thuốc, xức dầu nóng, tự ý uống thuốc giảm đau.

Ðể lành xương nhanh chóng, không chỉ người cao tuổi mà cả những bệnh nhân trẻ cũng cần chú ý những điểm sau: dinh dưỡng đầy đủ và vận động sớm (theo đúng hướng dẫn của bác sĩ chuyên khoa chỉnh hình). Sự vận động sớm mang lại nhiều ích lợi cho cơ thể người cao tuổi, giúp ngăn ngừa táo bón, chống loét do tư thế nằm lâu, đồng thời giúp máu huyết lưu thông làm xương chóng lành, chống sưng phù chi đau, giảm sự cứng khớp, teo cơ.

Vì những lợi ích to lớn như thế nên quan điểm điều trị gãy xương hiện đại là cố định xương gãy thật chắc chắn để giúp người bệnh, nhất là người cao tuổi có khả năng vận động sớm. Sự cố định xương này được thực hiện bằng nhiều phương pháp, trong đó có phẫu thuật.

Tuy nhiên, không phải lúc nào cũng có thể cố định xương thật chắc chắn như ý muốn, vì điều này còn tùy thuộc vào đặc điểm xương của bệnh nhân cũng như mức độ nặng nhẹ của xương gãy. Ví dụ với loại xương quá xốp thì không đặt nẹp được do các ốc vít không bám được vào xương, hoặc xương gãy nát nhiều mảnh nhỏ thì không thể nào ráp dính lại với nhau hoàn toàn.

Chính vì thế mà cũng có nhiều hướng dẫn điều trị khác nhau, mỗi bệnh nhân sẽ có chế độ điều trị riêng, không ai giống ai. Chẳng hạn cùng là gãy đầu dưới xương quay, nhưng có người bó bột 2 tuần, có người phải bó bột 6 tuần. Cùng là gãy cổ xương đùi, có người bó bột nằm nghỉ trên giường 1 tháng, có người vừa mổ xong đã tập đi nạng được ngay ngày hôm sau.

Với người cao tuổi, không chỉ cần đến món ăn bổ dưỡng mà phải quan tâm thức ăn ấy có được hấp thu tốt qua đường ruột hay không? Ăn nhiều chất bổ nhưng không hấp thu được vào máu thì dinh dưỡng vẫn kém. Người cao tuổi lại hay bị táo bón do ít vận động, do tư thế nằm lâu, ruột làm việc kém, hậu quả là gây cảm giác chướng bụng, không muốn ăn, khó tiêu, ợ chua. Có thể khắc phục bằng cách uống một ít thuốc táo bón hỗ trợ ban đầu, sau đó tập ngồi dậy, vận động, ăn các thức ăn lỏng dễ tiêu hóa. Nếu quá yếu, nhiều lúc phải hỗ trợ bằng nuôi ăn qua đường tĩnh mạch trong vài ngày đầu để có sức.

Một số chế độ điều trị thường dùng cho người cao tuổi
- Gãy đầu dưới xương quay: Nắn kín và bó bột cẳng bàn tay sát khuỷu khoảng 3 tuần, tháo bột và đặt một nẹp vải ở cẳng bàn tay. Sau khi bó bột về, chú ý kê tay cao để ngừa sưng bàn tay, ngón tay. Thường xuyên cử động các ngón tay cho máu lưu thông tốt. Một số trường hợp gãy phạm khớp nặng sẽ được mổ nắn, cố định ổ gãy bằng nẹp vít hay các loại kim Kirschner. Một số khác có thể được sử dụng khung bất động ngoài.

- Gãy đầu trên xương cánh tay (gãy cổ phẫu thuật): Bệnh nhân được cố định ổ gãy ở tư thế áp tay sát thân và nâng khuỷu gấp 90 độ. Loại băng nẹp gọi là băng Deseault. Loại gãy này rất dễ lành xương.

- Gãy cột sống thắt lưng: Bệnh nhân phải nằm nghỉ 3-4 tuần trên giường. Chú ý vấn đề lăn trở, có thể lật nghiêng nhẹ với tư thế giữ thẳng cột sống để vệ sinh chống loét. Cho bệnh nhân tập vận động tay chân. Nằm nệm hơi, nệm nước. Sau hai tuần có thể ngồi dốc 30-45o.

- Gãy cổ xương đùi: Cần nhập viện và mổ cấp cứu ngay. Người bệnh sẽ được nắn xương trên bàn chỉnh hình và cố định ổ gãy bằng 2 vít xốp hoặc 2 đinh Knowles. Phẫu thuật được thực hiện dưới màn hình kiểm soát gọi là C-arm. Ðây là một loại máy chụp X-quang trong phòng mổ, giúp bác sĩ thấy được ổ xương gãy mà không cần phải mở da như kỹ thuật xưa kia. Nhờ vậy có thể nắn xương tốt và vết thương trên da của bệnh nhân chỉ vào khoảng 1-2 cm (vừa đủ cho đinh vào).

Sau mổ, bệnh nhân có thể ngồi dậy tập co gối nhẹ. Nếu khỏe có thể tập đi khung hay hai nạng nhưng chưa chạm đất chân đau ngay. Mức độ chịu nặng (chạm đất) của chân gãy sẽ tăng dần tùy theo sự tiến triển lành xương của người bệnh. Thường sẽ bỏ nạng sau khoảng 6-9 tháng vì đó là khoảng thời gian đủ cho gãy cổ xương đùi lành.

Tuy nhiên có một số trường hợp xương không lành hay chỏm xương bị hư sau khi gãy xương đã lành. Lúc này có chỉ định thay chỏm nhân tạo.

- Gãy xương bánh chè: Cũng được mổ cấp cứu. Sau khi mổ, bệnh nhân thường được bó bột đùi cổ chân. Người bệnh có thể đi hai nạng hay khung ngay sau mổ. Sau 2-3 tuần, bột sẽ được tháo và bệnh nhân được hướng dẫn tập co gối. Nếu không tập sẽ bị cứng gối, lúc đó người bệnh không gập gối lại được vì khớp bị giới hạn. Xương thường lành sau 3-6 tháng. Nếu dụng cụ cố định xương gây cấn đau sẽ được bác sĩ mổ lấy bỏ.

Phòng tránh chấn thương

Với người bệnh:

- Ði lại cẩn thận. Tốt nhất sử dụng một cây gậy để hỗ trợ và cảnh báo người khác. Nên thực hiện các động tác sinh hoạt nhẹ nhàng và chậm để giúp cơ thể tránh bị những lực tác động mạnh và bất ngờ.

- Phòng vệ sinh khô ráo, thường xuyên có đủ ánh sáng, có các thanh vịn hỗ trợ khi cần thiết.

- Tránh nằm giường cao. Tránh nằm võng vì ở tư thế này khi ngồi dậy, người cao tuổi dễ bị trẹo người và lật ngã. Nên nằm mùng và có gối tấn bảo vệ.

Với người thân:
- Tạo điều kiện thuận lợi cho người cao tuổi khi thiết kế nhà cửa, như làm bậc thang thấp, tránh bố trí phòng ngủ ở lầu cao, nên có nhà vệ sinh gần phòng ngủ, đèn đủ sáng và sàn nhà không trơn trợt...

- Khi người cao tuổi bị chấn thương, dù nhẹ cũng nên kiểm tra ngay bằng X-quang và đến bệnh viện để các bác sĩ chuyên khoa định rõ bệnh. Không nên tự ý uống thuốc, sửa trật, bó thuốc vì có thể làm bệnh nặng hơn. Chú ý nhẹ nhàng khi thay đổi tư thế nằm, ngồi, đứng. Nếu có gãy xương thì nên tuân thủ đúng chế độ điều trị của bác sĩ, tư vấn để nhờ bác sĩ giải thích cặn kẽ.

Nguồn: http://dulieunguon.blogspot.com/2008/10/chm-sc-gy-xng-cho-ngi-cao-tui.html

Bài thuốc quý góp phần tạo chất nhờn khớp gối và cột sống, chữa đi tiểu đêm nhiều lần

Từ tuổi trung niên trở đi, xương khớp đã bắt đầu thoái hóa, đi lại khó khăn, lưng đau, gối kêu cọt kẹt, đồng thời quả thận cũng như một nhà máy đã hoạt động nhiều năm, chức năng suy giảm, có thể gây ra đi tiểu đêm nhiều lần, rất phiền phức trong sinh hoạt và tổ chức lại giấc ngủ.
Bài thuốc có tác dụng tạo chất nhờn khớp gối và cột sống, đồng thời chữa được chứng đi tiểu đêm nhiều lần. Bài thuốc dễ làm, dễ dùng, hiệu quả nhanh, nhiều người đã dùng đều có kết quả rất tốt.

Các vị thuốc gồm:

- Đỗ trọng 25g

- Ngưu tất 25g

- Gừng tươi 05g

- Thận lợn 01 quả

(Nếu có thận dê thì hiệu quả càng cao)

Cách làm: Thận bổ đôi, bỏ hết lõi trắng, thái nhỏ. Đỗ trọng, ngưu tất, gừng đun sôi rồi hầm nhỏ lửa một giờ, sau đó vớt bỏ bã, cho thận vào nấu chín, cho đủ gia vị (mắm muối), ăn nóng.

Khi mới dùng có thể ăn liên tục ba, bốn ngày, sau đó mỗi tuần dùng một lần. Nếu tìm được thận dê trắng thì đó là món ăn quý dành cho quý ông. Tiểu đêm nhiều lần do tiền liệt tuyến không dùng bài này.

Bài thuốc góp phần giảm bớt khó chịu của gánh nặng tuổi tác.

Xin lưu ý, thuốc dù tốt đến đâu mà không có lối sống lành mạnh, chế độ ăn uống khoa học và tập luyện đúng mức thì kết quả đều không cao.

Trần Vân Hạc
Nguồn: http://nguoicaotuoi.org.vn/Story.aspx?lang=vn&zoneparent=0&zone=6&ID=636

Thoái hóa khớp, bệnh phổ biến ở người cao tuổi

Bệnh thoái hóa khớp rất thường gặp ở NCT. Đây là hiện tượng già của sụn khớp cũng giống như các bộ phận khác của cơ thể, tăng dần theo thời gian. Từ tuổi 70 trở đi hầu như mọi người đều có dấu hiệu thoái hóa khớp.

Tổn thương thoái hóa khớp thường gặp ở cột sống (nhất là ở cột sống thắt lưng và cột sống cổ); ở chi dưới như khớp gối, khớp háng; ở chi trên như khớp vai. Phần lớn người bệnh chỉ bị tổn thương một vài khớp, ít khi bị nhiều khớp.

Trong cấu tạo của khớp xương, sụn khớp có vai trò rất quan trọng. Sụn bao phủ đầu xương như một chiếc đệm giảm xóc, vừa chống va đập khi khớp chuyển động vừa làm giảm ma sát giúp các xương trườn lên nhau dễ dàng. Trong bệnh thoái hóa khớp, lớp bề mặt sụn bị khô nứt, xói mòn. Sụn mất chức năng đệm, làm cho các khớp xương khi chuyển động cọ xát vào nhau gây đau và sưng tấy. Lâu dần khớp sẽ bị biến dạng; các chồi xương được hình thành và phát triển ở bờ xương làm sự cọ xát tăng lên, bệnh nhân càng bị đau khớp nhiều hơn.

Triệu chứng sớm nhất của bệnh là đau khi vận động, mới đầu chỉ đau khi khớp hoạt động, nghỉ sẽ hết đau; sau đó có thể đau âm ỉ liên tục và đau trội hẳn lên khi vận động. Nếu thoái hóa khớp háng, người bệnh đau ở vùng bẹn, vùng trước trong đùi, có thể đau cả vùng mông lan xuống mặt sau đùi. Nếu thoái hóa khớp gối, người bệnh đau nhiều khi đi lại, đứng lên ngồi xuống khó khăn, nhất là lúc lên xuống thang gác hoặc đang ngồi xổm đứng lên, có khi đau quá bị khụy xuống đột ngột. Nếu thoái hóa cột sống thắt lưng, người bệnh bị đau âm ỉ ở vùng thắt lưng và thường đau trội lên về chiều sau một ngày làm việc phải đứng nhiều hay lao động nặng, lúc nằm nghỉ đau sẽ giảm. Khi đau, bệnh nhân làm các động tác cúi, nghiêng, ngửa hoặc xoay người rất khó khăn.

Sau triệu chứng đau là tình trạng hạn chế vận động. Nếu bị thoái hóa khớp háng, người bệnh đi khập khiễng, giạng háng khó khăn, khó gập đùi vào bụng. Nếu bị thoái hóa khớp gối, các động tác gấp và duỗi thẳng chân bị hạn chế, đứng lên ngồi xuống khó khăn, có thể thấy tiếng lắc rắc khi vận động khớp. Nếu bị thoái hóa khớp vai sẽ hạn chế các động tác đưa tay ra trước, ra sau, quay tay và không làm được một số động tác đơn giản như gãi lưng, chải đầu...

Ngoài hai triệu chứng chính là đau và hạn chế vận động, người bệnh có thể bị teo cơ, nhất là các chi.

Phòng và điều trị bệnh

Để đề phòng và hạn chế thoái hóa khớp, ngay khi còn ở lứa tuổi ngoài 40 cần tập thể dục đều đặn và cố tránh bị béo phì hoặc bị tiểu đường vì thoái hóa khớp rất thường gặp, dễ xảy ra nặng ở những người bệnh này. Chú ý tránh những động tác quá mạnh, nhất là những động tác có thể làm lệch trục khớp và cột sống.

Nếu có dấu hiệu đau và hạn chế vận động phải điều trị ngay. Trước đây người ta chủ yếu dùng các thuốc giảm đau, chống viêm steroid và phi steroid để làm giảm triệu chứng đau và viêm cho người bệnh. Như vậy là chữa triệu chứng chứ chưa phải chữa nguyên nhân gây bệnh. Hiện nay, việc điều trị thoái hóa khớp đã có nhiều tiến bộ, có những loại thuốc chữa bệnh tận gốc chứ không dừng lại ở chữa triệu chứng.

Loại thuốc có hiệu quả tốt trong điều trị thoái hóa khớp hiện nay là Glucosamine. Thuốc này không những có tác dụng làm giảm đau, chống viêm mà quan trọng nhất là kích thích sản xuất sụn, ngăn chặn tiến triển của bệnh, giải quyết được tận gốc nguyên nhân gây bệnh. Về dược lí, Glucosamine tham gia quá trình chuyển hóa tổng hợp nên sụn khớp đồng thời ức chế các enzym phá huỷ sụn khớp và giảm các gốc tự do phá huỷ các tế bào sinh sụn. Glucosamine còn kích thích sinh sản mô liên kết của xương, làm giảm quá trình mất canxi của xương. Nó cũng làm tăng sản xuất chất nhầy dịch khớp nên tăng độ nhớt, tăng khả năng bôi trơn của dịch khớp. Vì thế Glucosamine không những làm giảm triệu chứng của thoái hóa khớp (đau, khó vận động) mà còn ngăn chặn quá trình thoái hóa khớp, ngăn chặn bệnh tiến triển, tác dụng vào cơ chế bệnh sinh của thoái hóa, phục hồi lại cấu trúc sụn khớp.


BS. Phùng Chúc Phong

Thoát vị đĩa đệm và những hậu quả khó lường

Thoát vị đĩa đệm nhiều tầng - một bệnh lý lâm sàng rất phức tạp, đa dạng, nhất là trường hợp khối lượng thoát vị quá to gây chèn ép tủy sống và đuôi ngựa.

Đây là chùm hội tụ nhiều rễ thần kinh thắt lưng - cùng gây đau đớn cho người bệnh tới cực điểm, đòi hỏi phải xử trí cấp cứu kịp thời.

Hậu quả do thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng

- Đau rễ thần kinh

Đau rễ phản ánh một quá trình tổn thương kích thích rễ thần kinh. Có thể do chèn ép cơ học (thoát vị đĩa đệm, chèn ép do xương); do viêm rễ, viêm ngoài màng cứng, viêm màng nhện của tủy sống; do u rễ. Đau rễ thần kinh thường đau theo dải, lan từ thắt lưng xuống chân, tương ứng với vùng phân bố của rễ thần kinh. Đau rễ xuất hiện sau giai đoạn đau thắt lưng cục bộ, đau tăng lên khi đi lại, đứng lâu, ngồi lâu. Đau dội mạnh lên khi ho, hắt hơi, rặn đại tiện. Nằm nghỉ tại giường lại giảm đau nhanh chóng. Đó là kiểu đau mang tính chất cơ học, thường gặp trong cơ chế xung đột giữa đĩa đệm với rễ thần kinh do thoát vị đĩa đệm.

Đau rễ lại xuất hiện khi đi được một đoạn làm bệnh nhân phải dừng lại để nghỉ. Khi đi tiếp một đoạn nữa, đau lại xuất hiện, buộc bệnh nhân phải nằm nghỉ. Người ta gọi đó là hội chứng đau khập khễnh cách hồi.
Trường hợp đau một rễ thần kinh thường gặp trong thoát vị đĩa đệm tầng L4 - L5 (đốt thắt lưng 4 - 5) và thoát vị đĩa đệm L5 - S1 (đốt thắt lưng 5 - xương cùng thứ nhất). Trường hợp thoát vị đĩa đệm hai tầng sẽ gây đau hai rễ thần kinh, thường gặp ở hai đĩa đệm cuối là L4 - L5 và L5 - S1 vì đây là đoạn bản lề của cột sống thắt lưng, nơi chịu sức ép mạnh của tải trọng phần trên cơ thể và sự chuyển động của cột sống về nhiều phía.

Rối loạn cảm giác thường gặp là giảm cảm giác nông (nóng, lạnh, xúc giác) ở những khu vực khoang da tương ứng với rễ thần kinh bị tổn thương. Đây là biểu hiện mức độ tổn thương sâu sắc của rễ thần kinh.

- Rối loạn vận động: bại và liệt cơ ở hai chân do rễ thần kinh chi phối.

- Rối loạn cơ thắt: trong tổn thương các rễ vùng xương cùng (rễ S3, S4, S5) có biểu hiện lúc đầu bí tiểu sau đái dầm dề, luôn luôn có nước tiểu chảy rỉ ra một cách thụ động do liệt cơ thắt kiểu ngoại vi không giữ được nước tiểu.

Ngoài các triệu chứng trên, thầy thuốc chuyên khoa thần kinh có những nghiệm pháp khám khách quan như rối loạn phản xạ, rối loạn thần kinh thực vật…



* Các giai đoạn tiến triển của thoát vị đĩa đệm.

Và hội chứng đuôi ngựa

Tủy sống tận cùng ở ngang mức đốt sống thắt lưng 2 (L2). Tiếp theo khoanh tủy cuối là nón cùng (hình tam giác giống như cái nón). Đuôi ngựa là hội tụ của các rễ thần kinh thắt lưng cùng, gồm các rễ L2, L3, L4, L5, S1, S2, S3, S4, S5 chi phối thần kinh vận động, cảm giác và dinh dưỡng cho các cơ quan trong chậu hông và hai chân.

Trường hợp đau nhiều rễ thần kinh do chèn ép của khối thoát vị đĩa đệm lớn, nhiều tầng tạo nên bảng lâm sàng như là một khối u, được gọi là hội chứng đuôi ngựa. Đau nhiều rễ cũng ít gặp nhưng rất quan trọng vì thường là khởi đầu của bệnh cảnh hội chứng đuôi ngựa do khối thoát vị đĩa đệm lớn (thể giả u) chèn ép đuôi ngựa. Đặc điểm lâm sàng là đau khốc liệt, người bệnh không thể chịu nổi, đòi hỏi cấp cứu về thần kinh. Đau lại kèm theo liệt cơ, mất cảm giác, rối loạn cảm giác…

Có 3 hội chứng đuôi ngựa tùy theo tầng thoát vị đĩa đệm, có các hội chứng khác nhau:

Hội chứng đuôi ngựa trên: liệt ngoại vi toàn bộ ở hai chân, rối loạn cảm giác hai chân từ nếp bẹn trở xuống, rối loạn cơ thắt kiểu ngoại vi. Thể này ít gặp vì thoát vị đĩa đệm ở đoạn cao (L1 - L2 và L2 - L3) ít có điều kiện xảy ra.

Hội chứng đuôi ngựa dưới: do thoát vị đĩa đệm L5 - S1, có rối loạn cơ thắt kiểu ngoại vi, rối loạn cảm giác vùng đáy chậu, không có liệt hoặc chỉ liệt một số động tác của bàn chân (rễ L5, S1, S2).

Hội chứng đuôi ngựa giữa: thường gặp do thoát vị đĩa đệm L3 - L4 và L4 - L5. Liệt gấp cẳng chân, liệt các động tác của bàn chân và ngón chân, mất cảm giác toàn bộ ngón chân; mất cảm giác toàn bộ cẳng chân, bàn chân, mặt sau đùi và mông; rối loạn cơ thắt kiểu ngoại vi.

Chẩn đoán xác định viêm đa rễ thần kinh dựa trên cơ sở lâm sàng và các kỹ thuật cận lâm sàng như chụp Xquang, chụp cắt lớp vi tính, chụp cộng hưởng từ…



* Thoát vị đĩa đệm gây nhiều rối loạn khác nhau.

Chữa trị bằng các biện pháp kết hợp

Chế độ vận động: trong thời kỳ cấp tính, nằm nghỉ tại giường là nguyên tắc quan trọng đầu tiên. Tư thế nằm ngửa trên ván cứng, có đệm ở vùng khoeo làm co nhẹ khớp gối và khớp háng.
Điều trị vật lý và các liệu pháp phản xạ: bao gồm phương pháp nhiệt như chườm nóng (túi nước, muối rang, cám rang, lá lốt, lá ngải cứu nóng); dùng các dòng điện tại khoa vật lý trị liệu, điều trị bằng laser; châm cứu.
Dùng thuốc: chủ yếu là dùng các loại thuốc chống viêm, giảm đau, giãn cơ, an thần, trấn tĩnh thần kinh và vitamin nhóm B liều cao (B1, B6, B12). Các thuốc này đều có những chống chỉ định nên phải do thầy thuốc chuyên khoa sử dụng.
Các biện pháp điều trị đặc hiệu khác đều phải điều trị nội trú tại các trung tâm chuyên khoa thần kinh và phẫu thuật thần kinh.

Theo PGS. Vũ Quang Bích
SK&ĐS

Bệnh đău lưng (2 bài)

Bệnh đau thắt lưng ở người cao tuổi



Những người ở trong độ tuổi 45 trở lên thường đau thắt lưng, cũng có một số người dưới 20 tuổi mắc phải bệnh này.

Có nhiều nguyên nhân gây bệnh đau lưng: bẩm sinh, va chạm thần kinh, bị thương, bị ngã, bị vật nặng đụng vào lưng, nhiễm trùng, sau giải phẫu, xương sống thoái hóa, sưng khớp, hệ tuần hoàn bị nghẽn, đứng lâu, ngồi cong lưng và một nguyên nhân ít người nghĩ đến là sự căng thẳng.

Các phương pháp điều trị:

Khi bị đau lưng, người bị đau lưng hay nghĩ ngay đến bác sĩ về chỉnh xương, nắn gân (chiropractor) để làm “therapy” nghĩa là “vật lý trị liệu”. Thường thì các bác sĩ ít khi tự tay làm vật lí trị liệu hoặc cho uống thuốc giảm đau. Còn thầy thuốc Đông y cho đốt ngải cứu chườm lưng...

Gần đây, một phương pháp đơn giản và có thể chữa tận gốc căn bệnh là: Tập vận động thắt lưng (back exercises). Phương pháp này được các bác sĩ Tây y phổ biến trên mạng (http://www.annals.org) trừ những người bị chấn thương và mới giải phẫu.

Tập vận động thắt lưng, phối hợp với khí công

1. Vặn thắt lưng: Đứng thẳng, hai tay buông xuôi theo thân người, từ từ xoay qua bên phải, hai tay “vặn” theo cho đến hết cỡ. Khi bắt đầu xoay, hít chầm chậm qua mũi, khi ngưng lại thì nén hơi, đếm 1,2,3. Từ từ xoay trở lại phía bên trái, cũng “vặn” tay theo và hít vào. Nhớ làm thật chậm, càng chậm càng tốt, để hít ô-xy vào thật nhiều. Tập 10 lần một bên.

2. Xoay bụng: Hai tay chống hông. Lắc thắt lưng theo một vòng, nghĩa là đẩy thắt lưng tới trước rồi tiếp tục lắc về phía bên trái theo vòng tròn, khi đến phía đằng sau, thì đẩy thắt lưng về phía sau, lại kéo qua bên phải rồi đẩy tới trước đằng sau cho đủ một vòng. Trong khi xoay, cũng hít sâu, thở ra thật chậm.

3. Làm giãn xương: Đứng thẳng người, hai chân dang ra vừa phải, hai bàn tay ngửa lên trời, để chồng lên nhau trước bụng. Sau đó, chầm chậm đưa hai tay lên trời, nhưng trong khi đưa, từ từ úp hai lòng bàn tay vào trong phía bụng, rồi lộn ngược lên từ từ sao cho hai lòng bàn tay lật ngửa lên trời khi hai bàn tay ở trên đầu. Lưu ý, khi bắt đầu hít vào thật chậm, khi đẩy lên cao thì thở ra.

Những điều “cấm”, không được làm: Không được ngồi cong lưng. Không chạy mạnh. Không cúi gập người về đằng trước. Không làm các động tác vẹo người lâu. Không cúi xuống, nhấc đồ vật nặng.

Ngô Hữu Đoàn (Theo In-tơ-nét)

Hãy thư giãn khi đau lưng



Có thể nói đau lưng là bạn đồng hành của con người. Bệnh này không loại trừ ai, kể cả vận động viên, người dẫn chương trình, nhà quản trị hay sinh viên. Những người bị đau lưng cảm thấy khó chịu, nhói đau ở lưng. Nguyên nhân thường là co thắt mạn tính cơ lưng.

Bất kì cảm giác đau nào cũng có thể là tín hiệu về sự trục trặc trong cơ thể. Cơn đau lưng thường xuất hiện bất ngờ, làm tê liệt các ý thức, gây lo lắng. Đau nhiều hay ít lệ thuộc không phải vào mức độ huỷ hoại, mà vào cường độ co thắt cơ - nguồn gây đau. Nói tóm lại là tuỳ thuộc vào số lượng cơ tham gia vào quá trình, trạng thái giới hạn cảm giác đau.

Con người khác với những sinh vật khác ở chỗ “tự nguyện giam cầm” mình trong những tư thế để cơ thể căng thẳng lâu một cách không thăng bằng. Chẳng hạn, đó là thế ngủ trên tấm đệm mềm, chủ yếu làm việc bằng tay phải khi viết hay chân phải khi lái xe... Con người hiện đại ngày càng mất thói quen giữ cho cơ thể thăng bằng.

Điều tồi tệ nhất khi đau nhói ở lưng chúng ta thường uống thật nhiều thuốc giảm đau, chườm nóng và nằm rên rỉ trong tâm trạng tuyệt vọng. Nếu đi khám với những chẩn đoán đại loại như hỏng sụn, hư cột sống, viêm rễ thắt lưng cùng, đau thắt lưng, thoát vị đĩa gian đốt sống... thì cũng không nên coi đó là bản án, mà cần hành động hợp lí.

Các nhà khoa học Mỹ đã chứng minh rằng não và thân cũng tạo ra vòng luẩn quẩn những cơn đau mạn tính ở lưng. Tất cả đều bắt nguồn từ sự căng thẳng cơ do quá tải hoặc đau lưng. Các công trình nghiên cứu đã cho thấy rằng rối loạn cảm xúc đúng là gây co thắt các cơ lưng và hậu quả là làm đau thêm.

Vòng luẩn quẩn khép lại nhanh chóng: Cơn đau gây stress, làm căng các cơ lưng khiến con người ta sợ vận động bình thường, đến lượt mình điều đó lại làm các cơ lưng bị dồn nén hơn và yếu đi. Chu kì này có thể kéo dài một vài ngày, một vài tuần lễ, thậm chí không kéo dài.

Ngoài ra con người ta cũng bị cốt hoá xương sụn giữa các đốt sống gây hỏng sụn, chúng ta không hề thấy sự cốt hoá, nhưng khi khớp xương sụn mỏng đi và ít đàn hồi hơn khi đó cơ thể ảnh hưởng đến rễ con thần kinh. Các dây thần kinh vận động và cảm giác xuất phát qua các lỗ giữa đốt sống, phát đi các tín hiệu cho các cơ, da và các cơ quan nội tạng. Nếu thần kinh cơ bị chèn ép, những cơ này bị quá tải so với những cơ khác và gây đau. Đó là cách cơ thể gửi những tín hiệu đó. Tín hiệu cảnh báo chúng ta về những hậu quả nghiêm trọng hơn. Chẳng hạn khi bị bệnh vùng đốt sống cổ có thể gây đau đầu, chóng mặt, ù tai, rối loạn thì giác. Khi bị bệnh vùng lồng ngực, đau ở vùng tim, khó thở, khi bị bệnh vùng thắt lưng, rối loạn các cơ quan tiêu hoá, thận, giảm hưng phấn tình dục.

Trong kho tàng những phương tiện điều trị có:

Xoa bóp: đây là công cụ tự nhiên và thường có hiệu quả nhất. Tay người do não điều khiển là một trong những công cụ chữa bệnh hiệu quả nhất, không máy móc nào so sánh nổi và việc học thuần thục nghệ thuật xoa bóp phải mất hàng năm trời.

Vật lí trị liệu châm cứu, những bài thể dục chữa bệnh: Hai công cụ này đều tác động trực tiếp đến cơ thể người, thường là tác động bằng lực tới các cơ, dây chằng, xương, khớp sống nhằm giải toả co thắt cục bộ, giải thoát các rễ thần kinh và phục hồi lưu thông máu.

Nhưng điều chủ yếu nhất là phòng ngừa. Phòng bệnh tốt nhất cho cột sống là thế ngồi thẳng, luyện cơ, nằm đệm chỉnh hình cứng và kịp thời khắc phục những cơn đau ở lưng, tránh rối loạn cảm xúc bằng cách thư giãn.n

BS. Thu Hương
(Theo Zdorevie, MiGnews)

Phòng tránh loãng xương và gãy xương ở phụ nữ cao tuổi

Hiện nay, tỉ lệ phụ nữ cao tuổi nhiều hơn nam giới cao tuổi. Do tuổi thọ con người tăng, bệnh loãng xương dẫn đến gãy xương đang trở thành mối quan tâm lớn đối với phụ nữ cao tuổi.

Một bệnh phổ biến và gây nhiều tác hại

Bệnh loãng xương thường phát triển thầm lặng, không có triệu chứng rõ rệt, cho đến một ngày nào đó có thể bị gãy xương. Bệnh loãng xương gặp nhiều ở phụ nữ sau tuổi mãn kinh, khi cơ thể không còn sản sinh ra estrogen hoặc chỉ sản sinh rất ít estrogen là loại hoocmon giúp xương giữ độ vững chắc. Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO) riêng nước Mỹ, người ta ước tính có 24 triệu phụ nữ bị loãng xương, hằng năm có 1,3 triệu người bị gãy xương. Ở nước ta theo số liệu của các cơ sở điều trị thì các bệnh thoái hóa khớp và loãng xương ở phụ nữ cao tuổi rất phổ biến. Nhiều khi chỉ do trượt chân hoặc do một chấn thương nhỏ NCT cũng bị ngã gãy xương., thường là gãy cổ xương tay, cổ xương chân, nguy hiểm hơn là gãy cổ xương đùi, xương chân...

Nặng nhất là gãy cổ xương đùi, thường phải phẫu thuật và điều trị phức tạp. Do xương NCT bị loãng nên nhiều khi chỉ ngã nhẹ, đập mông xuống sàn nhà cũng có thể bị gãy cổ xương đùi, vỡ xương chậu, dẫn đến những hậu quả rất xấu. Tuổi càng cao, nguy cơ gãy cổ xương đùi càng lớn vì đây là chỗ phải chịu lực lớn nhất do trọng lượng cơ thể phía trên nén xuống và phản lực từ dưới dội lên. Nhiều cụ đã phải ngồi xe đẩy suốt những năm tháng cuộc đời còn lại sau lần ngã gãy xương. Hiện tượng thường gặp nhất là bị trơn ngã trong buồng tắm, đập mông xuống sàn, nhưng rất đau không đi đứng được nữa. Đến bệnh viện khám, thầy thuốc cho biết đã bị gãy cổ xương đùi, phải mổ và điều trị dài ngày. Hoặc đi tiểu ban đêm, bước xuống giường vướng chân vào màn bị ngã, hoặc khi thay quần áo co một chân lên, còn một chân đứng trụ không vững nên bị ngã ngồi đập mông xuống cũng bị gãy cổ xương đùi. Vì vậy, NCT phải chú ý phòng chống bệnh loãng xương và cố gắng tránh những tai biến gãy xương.

Phòng bệnh loãng xương và tránh tai biến gãy xương

Bệnh loãng xương thường gặp ở phụ nữ từ 50 tuổi trở lên, nhưng sự mất mát hao hụt chất xương bắt đầu sớm hơn, từ sau 35 tuổi, khoảng 50% sự hao hụt này xảy ra 7 năm sau mãn kinh. Tuy nhiên, bệnh loãng xương có thể tránh được bằng cách sống hợp lí. Đó là:

-Về ăn uống: Chất can-xi vô cùng cần thiết cho sự vững bền của xương, rất cần từ khi còn trẻ. Liều lượng can-xi cần thiết hằng ngày là 1.200mg đối với người từ 11 đến 18 tuổi, 800mg đối với phụ nữ tiền mãn kinh, 1.500mg đối với phụ nữ sau mãn kinh. Những thức ăn giàu can-xi là sữa, các loại cua, ốc, tôm tép, vừng, cà rốt, rau xanh...

-Thể dục thể thao: Đóng vai trò quan trọng trong việc sản xuất và duy trì các chất xương, đặc biệt đối với phụ nữ sau mãn kinh. Thiếu hoạt động thể dục, tập luyện dưỡng sinh sẽ làm tăng sự hao hụt chất xương (can-xi) trong cơ thể.

-Người cao tuổi nên cố gắng tránh bị ngã: Việc đi đứng, sinh hoạt hằng ngày trong gia đình phải cẩn thận, nhất là khi vào những nơi sàn nhà bị trơn ướt như buồng tắm, lên xuống cầu thang, đi lại khi trời mưa, nền ướt. Tốt nhất là làm thêm tay vịn dọc theo tường trong buồng tắm vì là nơi các cụ dễ bị trượt chân trên nền gạch ướt. Đi lại trong nhà, các cụ cũng nên chọn dùng loại dép có độ ma sát lớn.

Hiện nay, y học chưa có phương pháp chữa khỏi được bệnh loãng xương, nhưng một số loại thuốc có khả năng hạn chế sự mất mát chất xương, tránh được gãy xương, như việc dùng estrogen có thể làm hạ thấp tỉ lệ gãy xương. Tuy nhiên, không phải ai cũng dùng được estrogen. Thuốc này tuy có tác dụng tốt đối với loãng xương và làm giảm được tỉ lệ gãy xương, nhưng lại làm tăng nguy cơ mắc các bệnh ung thư nội mạc tử cung, ung thư buồng trứng, ung thư vú, đặc biệt là đối với những người có tiền sử gia đình mắc những bệnh này, làm tăng các bệnh ở túi mật. Vì vậy, việc dùng estrogen phải thận trọng và phải do thầy thuốc chỉ định. Nói chung những người có khối u ở vú, gan hoặc niêm mạc tử cung, gia đình có tiền sử ung thư, mắc các bệnh gan hay túi mật... không nên dùng thuốc này

BS. Xuân Lục

Béo phì lúc trẻ, loãng xương khi già

Mật độ xương của trẻ béo phì thấp hơn 5-6% do thiếu các khoáng chất

Nghiên cứu mới tại Anh cho thấy, trẻ em béo phì dễ bị gãy xương và có nguy cơ bị chứng loãng xương khi về già, theo báo The Independent.
Trẻ em thừa cân phát triển xương to hơn để “gánh” trọng lượng thừa. Khảo sát của Hội đồng Nghiên cứu Y khoa Anh (MRC) trên 499 trẻ em 6 tuổi khỏe mạnh cho thấy, mật độ xương của chúng thấp hơn 5-6% do chúng thiếu các khoáng chất để làm cho xương chắc khỏe.

Nghiên cứu cũng cho thấy, tình trạng béo phì ở trẻ em sẽ làm tăng nguy cơ loãng xương, yếu xương hông và gãy sống lưng khi về già, do 90% khối lượng xương được tích tụ trong thời thơ ấu, trực tiếp tác động đến độ chắc khỏe của xương về sau này.

Đây là một phần dự án nghiên cứu lớn hơn do MRC phối hợp với một tổ chức ở Southampton thực hiện nhằm tìm hiểu lối sống, chế độ ăn uống và các tác nhân môi trường trong thời kỳ mang thai và thời thơ ấu tác động đến các bệnh liên quan đến tuổi già như tiểu đường típ 2 và bệnh tim.

Theo các chuyên gia, phát hiện mới cho thấy việc xử lý tình trạng béo phì thời thơ ấu đang trở nên cấp thiết hơn do chi phí ngăn ngừa và điều trị bệnh loãng xương không rẻ./.

Theo Thanh niên

Thoái hoá khớp bàn tay, bệnh hay gặp ở người cao tuổi

Bàn tay con người là một sản phẩm vĩ đại của sự tiến hóa. Người xưa có câu "Giàu hai con mắt, khó hai bàn tay".

Khi con người đứng thẳng trên đôi chân, hai chi trên được giải phóng. Bàn tay rất khéo léo, linh hoạt và là một công cụ lao động vô cùng hiệu quả. Tuy nhiên, thoái hoá khớp (THK) bàn tay là một trong các bệnh khớp thường gặp ở người có tuổi, gây đau, ảnh hưởng nhiều đến chức năng vận động và đời sống sinh hoạt hằng ngày của bệnh nhân. Ở Việt Nam, THK bàn tay chiếm tỉ lệ 14%, đứng hàng thứ tư trong các vị trí THK thường gặp...

Ai hay bị THK bàn tay?

THK thường đi kèm với NCT. Tuổi trung bình của bệnh nhân THK bàn tay là 60 - 65 tuổi. Tuy

nhiên, từ độ tuổi 55 đã bắt đầu xuất hiện các biểu hiện của THK bàn tay. Tỉ lệ THK tăng dần theo tuổi, cao hơn ở nhóm tuổi từ 60 trở lên và cao nhất ở nhóm 70 - 79 tuổi. Tuổi cao là yếu tố nguy cơ cao nhất của THK, có thể nói rằng tuổi càng cao, lượng máu đến nuôi dưỡng vùng khớp bị giảm sút, sự lão hoá sụn càng rõ, làm cho sụn kém chịu đựng được các yếu tố tác động có hại lên khớp. Ngoài ra, người già vẫn phải làm việc để kiếm sống, chăm lo các công việc trong gia đình như giặt giũ, bế cháu, các việc nội trợ khác, họ lao động chân tay là chủ yếu, tạo điều kiện cho THK phát triển. Thứ hai, bệnh cũng thường gặp ở nữ giới (75%). Số lượng bệnh nhân nữ mắc THK bàn tay nhiều gấp 3 lần so với nam giới. Nguyên nhân có thể là do sự thay đổi hoóc-môn như estrogen dẫn đến thay đổi tế bào sụn khớp. Thứ ba, những người béo phì cũng dễ bị THK bàn tay. Có tới 1/3 bệnh nhân THK bàn tay bị béo phì. Thứ tư là THK bàn tay thường xuất hiện sau một số bệnh lí bàn tay như sau chấn thương, gãy xương khớp, hoại tử xương, viêm khớp dạng thấp, gút mạn tính, đái tháo đường...

Nhận biết THK bàn tay

Bàn tay phải hay bị thoái hóa hơn vì đa số trong chúng ta đều thuận tay phải, dùng nhiều tay phải hơn trong cuộc sống, lao động và sinh hoạt. Trong số 5 ngón tay thì các ngón cái, ngón trỏ, ngón giữa (ngón I, II, III) hay bị thoái hóa nhất do các ngón này phải hoạt động tích cực nhất khi cầm, nắm, mang, vác hay xách đồ vật. Còn trong các vị trí khớp của từng ngón tay thì khớp ngón xa hay khớp ngón gần, khớp gốc ngón tay cái hay bị THK nhất, liên quan đến việc sử dụng các khớp này nhiều nhất khi cầm nắm đồ vật. Đặc biệt, khớp gốc ngón tay cái có hình yên ngựa, đảm nhiệm chức năng cầm, nắm đồ vật của bàn tay, do đó dễ bị tổn thương hơn. Hiện nay, người ta đã chứng minh vai trò chắc chắn của yếu tố nghề nghiệp trong THK gốc ngón tay cái ở phụ nữ. Người bệnh than phiền đau khớp bàn tay một bên hoặc cả hai bên, đau kiểu cơ học, tức là đau khi vận động và giảm khi nghỉ ngơi. Đau tăng lên khi mặc quần áo, khi cài khuy áo; đau khi nắm bàn tay lại, đau khi rót nước vào li và đỡ đau khi nghỉ ngơi. Đau thường chỉ ở mức độ nhẹ và trung bình. Vào buổi sáng, khi thức dậy, người bệnh thấy khớp bị cứng, khó cử động, kéo dài từ 15 - 30 phút. Cứng khớp sau khi nghỉ ngơi cũng thường gặp. Đó là dấu hiệu phá rỉ khớp. Dần dần bàn tay trở nên khó làm các động tác sinh hoạt thường ngày hơn, phát tiếng lạo xạo khi cử động, các cơ bàn tay teo nhỏ. Ở các giai đoạn muộn, có 1/3 bệnh nhân có các ngón tay bị biến dạng. Đó là do sự có mặt của các chồi xương, mọc ở khớp ngón xa (hạt Heberden) hay ở khớp ngón gần (hạt Bouchad), gây ảnh hưởng đến thẩm mĩ. Có khoảng 50% số bệnh nhân THK bàn tay gặp khó khăn khi thực hiện các công việc tự chăm sóc bản thân, nội trợ và các công việc trong sinh hoạt hằng ngày khác như chải đầu, giặt giũ, mặc quần áo, ăn uống, chăm sóc con cháu, bế cháu. Các xét nghiệm máu thường bình thường. Có thể sử dụng thêm chụp Xquang bàn tay để chẩn đoán THK bàn tay. Đây là kĩ thuật đơn giản, ít tốn kém, được sử dụng để đánh giá mức độ tổn thương của THK trong nhiều năm nay. Có 4 dấu hiệu cơ bản của THK bàn tay là gai xương, hẹp khe khớp, đặc xương dưới sụn, hốc xương.


PGS.TS.BS Nguyễn Vĩnh Ngọc
Khoa Khớp, Bệnh viện Bạch Mai, Hà Nội

Theo nguoicaotuoi.org.vn

Loãng xương: Thuốc và cách dùng

Mười năm trở lại đây, người dân quan tâm đến việc phòng chữa loãng xương (LX). Tuy nhiên, do chưa nắm được có hệ thống về thuốc, nên có người dùng thuốc chưa đúng, không toàn diện, có khi chỉ dùng thuốc phụ trợ, thậm chí chỉ dùng thực phẩm chức năng.

Một vài đặc điểm về bệnh

Mật độ xương BMD (bone material density) trung bình ở người khỏe mạnh lúc trẻ là T1, lúc mãn kinh là T2. Độ lệch chuẩn T tính bằng bằng T2/T1. Theo WHO, được coi là bị LX khi T < (-2,5).

Tuy nhiên, BMD thay đổi rất chậm, việc so sánh giá trị tuyệt đối qua từng thời kỳ, cũng như với BMD chuẩn rất khó. Trong chu chuyển xương (tạo, hủy xương) có tạo ra một số chất, dẫn chất (tiết vào máu, nước tiểu) mà chỉ số của chúng có thể đo được (như hydroxyprolin, hydroxylysin - glycosid, pyridinolin, desoxypyridinlin, propetid proclagen loại I, osteocalin, phosphatse kiềm). Tuy nhiên, các chỉ số này còn phụ thuộc vào một số yếu tố khác (tuổi, giới tính, loại xương). Cho nên, chưa thể dùng các chỉ số đó để tiên lượng tỷ lệ mất xương, chẩn đoán LX. Mặt khác, thực tế có khi chưa đạt đến độ lệch chuẩn T vẫn bị gãy xương. Vì vậy, ngay khi có triệu chứng lâm sàng rõ thì điều trị, không chờ xét nghiệm độ lệch chuẩn T.

Triệu chứng LX bao gồm: bị đau trong cả ống xương, chứ không phải chỉ đau ở khớp, đau như có kiến bò trong xương, không dữ dội, nhưng khó chịu. Các khớp xương bị hư hại trong đó các chất dịch giảm về số lượng, giảm chất lượng và bị loãng ra nên khớp bị khô kêu răng rắc, không mềm dẻo như trước. Các khớp xương sống bị chùn lại, người bị thấp xuống (so với khi trẻ), nặng hơn là lưng còng xuống.

LX có liên quan đến việc giảm hấp thu vitamin D, canxi, phosphor (vì chức năng bộ máy tiêu hóa giảm sút, vì ít tiếp xúc với ánh sáng), ở nữ có liên quan rất rõ đến việc giảm estrogen lúc mãn kinh (MK), ở nam có thể liên quan nhưng không rõ đến giảm testosteron ở tuổi trên 40. Nữ (MK) có khoảng 50 - 60% bị LX, trong khi ở nam tuổi tương đương tỷ lệ này chỉ 10%.

LX cũng có thể do rối loạn tuyến cận giáp, do dùng corticoid

LX làm giảm chất lượng cuộc sống. Hậu quả nghiêm trọng là gây gãy xương (dù va chạm rất nhẹ) để lại di chứng tàn phế suốt đời hoặc tử vong (sau gãy xương hông, người bệnh chỉ sống thêm chỉ khoảng 1 năm).

Quá trình tạo, hủy xương diễn ra suốt chiều dài cuộc đời, khi trẻ quá trình tạo xương lớn hơn, khi già quá trình hủy xương chiếm ưu thế. Cách phòng ngừa LX chủ động nhất là dùng đủ canxi, vitamin D ngay từ khi còn trẻ (ở tuổi nhỏ, tuổi trưởng thành, trước tuổi 26), nhằm giúp xương phát triển hoàn thiện. Nhu cầu hấp thu canxi mỗi ngày ở người lớn là 800mg. Khi vitamin D (biểu thị bằng nồng độ 25 (OH) D3 máu) 80nmol/ L là đủ (tốt nhất ở khoảng 100 - 120nmol/l).

Khi bị LX cần chữa càng sớm càng tốt. Cần dùng cả thuốc giúp quá trình tạo xương và cả thuốc chống, làm chậm quá trình hủy xương. Mỗi người có tình trạng bệnh, sự đáp ứng thuốc khác nhau, cần chọn lựa thích hợp (loại, liều lượng, cách dùng).

Vẫn cần bổ sung canxi và vitamin D

Khi đủ vitamin D, sự hấp thu từ thức ăn của canxi tăng (30%), phospho tăng (80%); nồng độ canxi, phospho máu tăng, tạo thành tricalciphosphat, gắn vào khung xương, làm tăng quá trình tạo xương. Theo đó, bổ sung canxi, vitamin D sẽ làm tăng BMD, giảm gãy xương. Song các thực nghiệm cho thấy không diễn ra hoàn toàn suôn sẻ như thế.

Một tổng phân tích từ 15 nghiên cứu cho thấy với nữ khỏe mạnh, nữ sau MK, bổ sung canxi sau 2 năm làm tăng BMD gần 2% nhưng không làm giảm tỷ lệ gãy xương đốt sống và các xương khác có ý nghĩa thông kê (Shea B- Well sC Craney A-2002).

Các nghiên cứu qui mô lớn, tại các nhà dưỡng lão cho thấy: bổ sung vitamin D3 với liều 800IU/ngày trong mỗi 4 tháng, làm giảm 33% gãy xương ngoài đốt sống so với nhóm chứng (Trivedi DP-2003).

Tỷ lệ giảm gãy xương chậu, ngoài đốt sống trong nghiên cứu trên 3.370 nữ cao tuổi với liều mỗi ngày 1.200mg canxi + 800IU vitamin D3 lần lượt là 43% - 32% (Pháp-1992), song trong một nghiên cứu khác (JAMA293:2257- 2264) với liều mỗi ngày700 - 800IU vitamin D3, chỉ giảm lần lượt là 26 - 23%. Thậm chí trong nghiên cứu trên 36.000 nữ MK với liều mỗi ngày 1.000mg canxi + 400IU vitamin D3 không làm giảm gãy xương (WHI*-2006).

Loại trừ yếu tố canxi (có thể gây nhiễu các kết quả) chỉ dùng vitamin D3 mỗi ngày 800IU thì nồng độ 25 (OH) D3 tăng từ 38nml/L (mức thiếu nặng) lên 70nmol/L (mức hụt) và không làm giảm gãy xương. Tuy nhiên nhận thấy, khi mức thiếu vitamin nhiều (nồng độ 25 (OH)D3 <42nmol/lL) mà nâng lên ngang với mức đủ (nồng độ 100nmol/ L) thì hiệu quả thể hiện rõ.

Hiện nay, vẫn khuyến cáo bổ sung canxi, vitamin D trong LX nhưng chú ý: kiểm tra vitamin D canxi máu trước khi dùng, khoảng 3 tháng cần kiểm tra lại, đánh giá sự đáp ứng. Nếu các chất này đã đạt ngưỡng cần thiết thì ngừng thuốc, khi nào thấy thiếu sẽ dùng lại. Về liều lượng: trước đây khuyến cáo với nữ MK mỗi ngày dùng 1.200 - 1.500mg canxi + 800IU vitamin D. Nay, tính toán liều theo tình trạng bệnh và sự đáp ứng của từng người trong khung mỗi ngày canxi từ 600 - 1.000mg, vitamin D cao nhất 800IU. Trong thời gian dùng, nếu thấy có biểu hiện viêm dạ dày (thường gặp) hay sỏi thận (hiếm khi gặp) thì phải ngừng dùng.

Ưu nhược điểm estrogen và chất điều hòa chọn lọc thụ thể estrogen

Estrogen có vai trò trong tạo xương nữ, ung thư vú. Dùng estrogen sẽ làm tăng, dùng chất điều hòa chọn lọc thụ thể estrogen sẽ làm giảm hormone này, do thế, sẽ gây các tác dụng phụ tương ứng.

Erogen: bổ sung estrogen trong liệu pháp thay thế hormone (HRT) làm tăng 5 - 10% BMD, làm giảm 27 - 33% gãy xương, sau khi ngừng dùng 5 năm, các kết quả này mất đi (Lind say R-1980 - Lufkin EG 1992 Torgerson DJ --2001). Liệu pháp này không hơn các liệu pháp khác. Trong khi đó, dùng lâu dài lại làm tăng nguy cơ ung thư nội mạc tử cung, ung thư vú, tăng nguy cơ bệnh tim mạch, gây huyết khối tắc nghẽn mạch, đột quị. Hiện nay, tuy vẫn còn dùng HRT (khi cần, cho nữ MK ít tuổi, trong thời gian ngắn), nhưng không dùng điều trị LX.

Tamoxifen: tamoxifen đối kháng với estrogen tại mô vú (chống ung thư vú), nhưng đồng vận với estrogen tại xương (chữa LX). Về lý thuyết, dùng tamoxifen như bắn một mũi tên được hai đích. Tuy nhiên, thực tế, tamoxifen có hiệu quả cao với ung thư vú (làm giảm nguy cơ tái phát, tử vong; giảm nguy cơ phát sinh ung thư mới ở vú đối diện; có tác dụng nâng đỡ tích cực ở tất cả các giai đoạn ngay cả khi đã di căn), nhưng có hiệu quả rất hạn chế với LX. Trong khi đó, tamoxifen có thể gây nên các triệu chứng giống suy giảm estrogen khi MK (bốc hỏa, đổ mồ hội, băng huyết nhẹ, tăng canxi huyết). Đáng chú ý hơn, gây huyết khối thuyên tắc tĩnh mạch (chân sưng, thở khó), rối loạn thị giác (ở liều cao), tăng ung thư nội mạc tử cung. Hiện nay rất ít dùng tamoxifen trong điều trị LX.

Raloxifen: Raloxifen kháng với estrogen tại mô vú nhưng đồng vận với estrogen tại xương, đều cho hiệu quả khá cao trong điều trị ung thư vú cũng như LX. Các nghiên cứu tại Âu - Mỹ gần đây xác nhận: raloxifen làm tăng BMD lên 2,3 - 2,5% ở tất cả các vị trí xương, đặc biệt ở xương sống thắt lưng, hông; làm giảm tỷ lệ gãy xương cột sống ở nữ đã có tiền sử và chưa có tiền sử gãy xương đốt sống lần lượt là 30 - 50%; đồng thời làm giảm 70% tần suất ung thư vú, giảm cholesterol toàn phần, giảm cholesterol xấu (LDL), làm chậm sự suy giảm nhận thức theo tuổi (MORE*-1999-2002). Raloxifen ít độc hơn: các tác dụng phụ giống suy giảm estrogen lúc MK chỉ thoáng qua; không gây ung thư nội mạc tử cung, rất hiếm khi gây huyết khối thuyên tắc tĩnh mạch (Cauley JA-2001). Hiện nay, raloxifen được dùng nhiều trong LX.

TAGS: Loãng xương,
24H.COM.VN (Theo SK&ĐS)

10 dấu hiệu xương bạn đang mỏng dần đi

Xương của bạn có đủ vững chắc hay không? Hãy lưu ý những dấu hiệu sau để có biện pháp bảo vệ cho xương của mình bởi có thể xương bạn đang bị báo động mà không hề biết.

1. Bạn bị nứt xương nhiều hơn một lần trong vòng hai năm chỉ vì các tai nạn nhỏ

Bạn bị vỡ mắt cá chân chỉ vì vấp té do đôi giày quá cao? Bạn bị chẩn đoán là nứt xương đầu gối chỉ vì một cú va quẹt xe nhẹ? Nếu bạn dễ dàng chấn thương về xương như thế thì chắc chắn xương của bạn đang gặp vấn đề.

Nên làm: Bạn cần kiểm tra mật độ xương. Các bác sĩ sẽ sử dụng một loại X-quang đặc biệt để đo lượng canxi trong xương và các vi chất khác cấu tạo nên xương. Thông qua kết quả kiểm tra, các bác sĩ sẽ dự đoán chính xác về nguy cơ gãy xương của bạn dựa vào mức độ loãng xương mà bạn đang mắc.

2. Bạn có dáng người thấp bé và xương mỏng

Những người có khung xương nhỏ và xương mỏng có khả năng bị loãng xương ngay cả khi còn trẻ. Điều này không có nghĩa là người to lớn sẽ không mắc bệnh loãng xương. Chỉ là người có khung xương nhỏ và xương mỏng sẽ có nguy cơ loãng xương cao hơn.

Chúng ta đạt khối lượng xương tối đa và ngừng phát triển khi chúng ta 20 đến 25 tuổi. Vào giai đọan từ 30 đến 40 tuổi, chúng ta bắt đầu bị mất xương. Tỷ lệ mất xương phụ thuộc vào di truyền, chế độ ăn uống, chế độ luyện tập thể dục…

Nên làm: Nếu bạn dưới 40 tuổi, nên làm tất cả mọi thứ có thể để giúp xương chắc khỏe: không quên uống sữa hàng ngày, ăn nhiều các thực phẩm giàu canxi và chăm chỉ luyện tập thể dục thể thao. Nếu bạn 40 tuổi trở lên, tiếp tục cung cấp magiê, vitamin D và canxi cho cơ thể, luyện tập thể dục.

3. Dùng prednisone và các loại corticosteroid khác để trị bệnh

Uống thuốc có chứa corticosteroid trong một thời gian dài ảnh hưởng đến mức độ hoóc môn, hoóc môn này làm mất canxi, vitamin D và các chất dinh dưỡng khác trong xương. Những người có bệnh tự miễn hoặc viêm khớp dạng thấp có mức độ loãng xương cao hơn người bình thường vì dùng hóa chất này để trị bệnh. Phụ nữ có nguy cơ cao hơn bởi họ có nhiều khả năng mắc các bệnh tự miễn dịch.

Nên làm: Nếu bạn dùng corticosteroid để trị bệnh, bạn cần được bác sĩ theo dõi cẩn thận thường xuyên.

4. Hút thuốc

Các chuyên gia không biết chính xác hút thuốc tác động xấu đến xương như thế nào, tuy nhiên nhiều nghiên cứu khẳng định đúng là việc hút thuốc có tác hại cho xương của bạn, đặc biệt là bệnh loãng xương. Vì vậy, nếu bạn hút thuốc, rất có thể bạn có nguy cơ loãng xương.

Nên làm: Tin mừng là không có khi nào là quá muộn hay quá tuổi cho việc bỏ thuốc lá, chỉ cần bỏ thuốc, bạn sẽ nhận được nhiều lợi ích sức khỏe.

5. Bạn uống nhiều hơn 2 ly rượu mỗi ngày

Rượu là một thực phẩm làm yếu xương bởi chúng làm tan canxi, magiê và các khoáng chất từ xương của bạn. Nếu bạn uống nhiều, khả năng loãng xương càng cao. Phụ nữ dễ bị loãng xương hơn nam giới một phần vì họ chịu tác động từ rượu mạnh hơn nam giới.

Nên làm: Giải pháp hàng đầu chính là cắt giảm lượng rượu mà bạn uống. Hãy thử thưởng thức một hoặc hai ly rượu một đêm và sau đó chuyển sang trà thảo mộc hoặc sữa nóng, mật ong.

6. Bạn không uống sữa

Sữa là một thành phần quan trọng để góp phần xây dựng xương. Sữa không chỉ cung cấp canxi mà còn cung cấp vitamin D, một thành phần thậm chí còn quan trọng hơn canxi.

Nên làm: Nếu bạn không thể uống sữa, nên dùng các thực phẩm hay các loại thức uống khác giàu canxi, magiê và vitamin D để bổ sung. Đậu nành là một thức uống thay thế khá tốt.

7. Bạn bị rối loạn ăn uống

Biếng ăn là một tiền đề nguy hiểm có thể đe dọa bạn bị loãng xương. Bởi trọng lượng cơ thể thấp có thể làm giảm lượng hoóc môn và nguyệt san không đều. Bất cứ điều gì làm giảm lượng estrogen đều có thể gây trở ngại trong việc xây dựng xương.

Những gì bạn nên làm: Nếu bạn bị biếng ăn hay cuồng ăn, bạn cần sự theo dõi của bác sĩ. Có nhiều biện pháp chữa trị rối loạn ăn uống được chứng minh là hiệu quả. Điều này rất quan trọng để bảo vệ hệ xương. Ngoài ra không quên một chế độ ăn uống giàu canxi, vitamin D nữa đấy.

8. Kinh nguyệt không đều

Lượng estrogen thấp thường là nguyên nhân của hiện tượng kinh nguyệt không đều. Thật không may, estrogen thấp ảnh hưởng trực tiếp đến sự mất xương. Estrogen thấp có thể do rối loạn ăn uống, luyện tập quá mức, bệnh buồng trứng đa nang.

Nên làm: Nên gặp bác sĩ. Các chẩn đoán có thể đưa ra kết quả chính xác và bác sĩ sẽ cho bạn phương án điều trị việc thiếu estrogen hiệu quả nhất.

9. Bạn có một người họ hàng gần mắc bệnh loãng xương trước tuổi 50 hoặc trước mãn kinh

Lịch sử bệnh loãng xương của gia đình là nguyên nhân đáng để bạn lo ngại. Bởi nếu bạn có người trong gia đình hay họ hàng gần mắc bệnh loãng xương thì nguy cơ mắc bệnh của bạn là khá cao.

Nên làm: Tìm hiểu lịch sử sức khỏe của gia đình bằng cách tham khảo thông tin từ ông bà cha mẹ, người thân. Nếu bạn có thân nhân loãng xương, hãy nói chuyện với bác sĩ.

10. Phụ nữ da trắng hoặc phụ nữ châu Á và trên 50

Ngoài các yếu tố về chủng tộc. Phụ nữ 60, 70 tuổi càng phải chú ý cao. Bởi loãng xương tăng dần theo tuổi tác. Các chuyên gia ước tính rằng loãng xương sau tuổi 75, 90% phụ nữ có nguy cơ gãy xương.

Nên làm: Bạn không thể thay đổi giới tính, chủng tộc, tuổi tác. Nhưng biết được nguy cơ sẽ giúp được bản nhận thức rõ tình trạng và nguy cơ của mình để có cách đề phòng tốt nhất. Nếu bạn trên 50 tuổi và xương đang suy yếu, bạn cần được sự hướng dẫn điều trị từ bác sĩ.

Nguồn: http://hn.24h.com.vn/ban-co-biet/10-dau-hieu-xuong-ban-dang-mong-dan-di-c406a369127.html