"Bệnh vào cơ thể từ miệng" là câu được đúc kết từ ngàn xưa. Nhưng hiểu "đầu vào" từ đường tiêu hóa, hô hấp... thì đúng nhưng chưa đủ. Đủ là cần biết 500 loại mầm bệnh luôn chực sẵn nơi răng miệng đợi dịp "đi tắt" qua hệ thống tuần hoàn để phát bệnh...
Phần 1: Kẻ ác rình rập
Thời Tam Quốc có chuyện cụ Băng Kinh, thọ 176 tuổi. Tào Tháo hỏi bí thuật sống lâu, cụ nói: "Mỗi việc ngày ngày gõ răng, nuốt nước miếng". Chả thế người xưa gọi nước miếng là thuốc bổ "cam lồ". Khoa học ngày nay chứng minh răng miệng là môi trường cộng sinh của đủ loại tạp khuẩn. Thế nhưng, trong số "quân ta - quân mình" ấy lại trà trộn vô số "quân nó", có loài ác hiểm stờ - rép - tô - cốp - cơ (Streptocoque) và các loại vi khuẩn gây hại khác làm sâu răng nếu chúng bám được vào men răng và khi chủ nhân ăn đồ ngọt chúng sẽ tiết ra những a - xít làm mất chất khoáng của răng là bước khởi phát bệnh từ răng lợi.
Những mảng bám răng lâu ngày tạo thuận lợi cho bệnh phát sinh, phát triển do lớp mảng bám sâu không nhận được ô - xi nữa, cũng tức là ở đó các tạp khuẩn có ích hiếu khí bị thay thế bởi những mầm bệnh kị khí. Đầu têu phải kể đến vi khuẩn Gờ - ram (Gram) là thủ phạm chính gây bệnh vùng răng lợi.
Đường tắt cho mầm bệnh
Viêm chân răng cũng như sâu răng, mầm bệnh (vi khuẩn) xâm nhập qua răng, chân răng rồi vào máu, chu du khắp cơ thể, điểm đến thì tùy loại mầm bệnh ưa "đặc sản" nào có thể "xơi" ngay mà cũng có thể tạm trú "đợi đấy". Thí dụ, theo Tin tức khoa học (News Scences) thì gần đây có tới 30 - 50% trường hợp viêm màng trong tim có bệnh căn từ răng miệng. Nguy cơ viêm chân răng có thể do cắn nhai một thứ vỏ cứng, sắc hoặc một bàn chải răng lông cứng làm "đứt" dây chằng quanh trụ lợi (trường hợp ăn uống thiếu dưỡng chất, người đau yếu, già cả dây chằng càng dễ "đứt") có thể thấy máu tươi bật ra là "mồi ngon" - đường tắt cho mầm bệnh xâm nhập. Văn y từng ghi rõ: Nhổ một chiếc răng hàm có thể khỏi hẳn chứng đau xương ở gót chân.
Nguy cơ từ răng lợi cũng liên quan đến bệnh tim mạch, tạo thuận lợi cho máu vón cục gây chứng huyết khối. Một tài liệu công bố ở Mỹ năm 2007 đã kết tội chứng viêm lợi làm tăng 7,5 lần nguy cơ thai phụ đẻ non vì độc tố tiết ra từ viêm lợi theo máu tới nhau thai gây tăng tiết chất prô - sta - glan - din - ne (prostaglandine) trong nước ối kích hoạt cổ tử cung giãn mở sớm đẩy thai ra hoặc gây hại cho sự phát triển của phôi, tăng khả năng sốt sản.
Bệnh nặng lợi mưng mủ, cũng là lối tắt cho mầm bệnh tấn công trực diện vào đường tiêu hóa từ thực quản đến trực tràng. Vi khuẩn len lỏi vào tuyến nước bọt gây quai bị, theo màng nhầy xoang hàm gây viêm xoang khiến có cảm giác đau dưới mắt rồi nhanh chóng lan đến hốc mắt làm viêm giác mạc, kết mạc.
Theo đường hô hấp, vi khuẩn vào tới cuống phổi gây viêm. Lời khuyến cáo lây nhiễm từ răng miệng không chỉ đặc biệt đối với người bệnh mạn tính phức tạp như tiểu đường, suy thận, suy giảm miễn dịch... mà với cả những ai thường dùng hoặc lạm dụng thuốc kháng sinh vì các thuốc này dùng lâu làm giảm khả năng miễn dịch. Nguy cơ bội nhiễm cũng được cảnh báo về vệ sinh răng miệng ở những người từng phẫu thuật dạ dày, thực quản, tim, chỉnh hình, v.v...
Giữ đồ làm sạch
Bàn chải răng, cốc nước, nơi để ẩm ướt là "hộ khẩu thường trú" lí tưởng của đủ loại vi khuẩn sinh sản. Nhiều nhà dùng chung bàn chải, để chung bàn chải trong một cái cốc. Nhưng cốc chỉ ba bốn ngày không được cọ rửa bằng xà phòng sẽ thấy thành cốc, ở bàn chải bám vào một lớp chất dính là xác chết, là chất độc vi khuẩn tiết ra. Các xét nghiệm còn xác nhận ở các vòi nước sau một đêm vi khuẩn bám đầy quanh vòi. Vậy là nếu không giữ sạch đồ làm sạch thì vô tình rước thêm mầm bệnh vào răng miệng. Tốt nhất là dùng xong rửa sạch, để khô.
Trong đồ làm sạch răng, tăm xỉa răng là "hung khí" ác hiểm nhất về nhiều mặt. Dân Âu Mỹ không có thói quen xỉa răng nên hàm răng chặt, lợi sít. Người mình trót chọc, ngoáy, đâm thủng chân răng, hở lợi từ bé, càng lớn càng xấu một "góc con người" và ươm mầm đủ loại bệnh từ ngoài vào, trong ra. Người lớn đã trót xỉa tăm thì hãy giữ vệ sinh biết chọn tăm sạch, vật chứa đựng hợp vệ sinh. Trẻ nhỏ chớ cho nhiễm thói quen xấu xỉa răng bằng tăm bẩn. Nay các nhà nhập khẩu bắt chước Tây quảng cáo dùng "chỉ nha khoa": Há mồm, một tay cầm đầu chỉ kéo, ta ta ngoài miệng... cưa - thật diệu vợi, còn mất vệ sinh hơn mà những mảng giắt trong kẽ răng thì chỉ chọc ngoáy mới vừa ý.
Phần 2: Tập sự nha khoa
Bóp nặn chân răng
Năm 1997, tôi giới thiệu cách bóp nặn ổ răng mưng mủ của bác sĩ Đông y Nhật Chư-nô-đa A-ki-ra ở các lớp dưỡng sinh, có số học viên áp dụng rất kết quả, tránh được nha chu viêm rụng hết răng - mà nếu bệnh để tiến triển thành mạn tính thì mầm bệnh xâm nhập vào cơ thể khó lường. Cách làm là rửa sạch bàn tay, ngón cái và ngón trỏ đưa vào miệng bóp chặt, day mạnh chỗ chân răng đau, mưng mủ thì nặn ra mủ máu.
Vận dụng cách chữa này, tôi dùng một ngón tay chà xát chân răng, cả trong ngoài, răng đã chớm lung lay sau dăm bảy ngày cũng chắc lại. Nhà thơ Phan Cung Việt ở CLB Văn nghệ Báo Tiền Phong làm theo tôi viết ở Tri thức trẻ công nhận trường hợp răng chưa mưng mủ, mới chớm bị đau, sâu và phòng bệnh răng lợi bằng chà xát hằng ngày là rất tốt. Cố thư kí của Bác Hồ, ông Vũ Kỳ (1921- 2005) kể, những năm ở ATK Việt Bắc, Bác chỉ dùng nước muối loãng súc miệng và chà xát, luyện răng chắc, chống nguy cơ mắt kém, răng rụng thêm từ sau thời gian bị giam cầm và giải đi qua 30 nhà lao ở Quảng Tây - Trung Quốc năm 1942.
Luyện cho răng chắc, khỏe
Mức sống và tuổi thọ người xưa rất thấp nhưng khá nhiều người công phu tập luyện theo giới luật đều thọ bách niên khỏe mạnh (chứ không như người nay dân số già hóa nhiều, bệnh tật càng nhiều). Cách gõ răng: Mím môi, dùng ba đầu ngón tay 2 - 3 - 4 gõ ngoài má, dọc hai hàm răng qua môi, gõ mạnh môi trên là huyệt Nhân trung, dưới là Thừa tương. Đồng thời day ấn những răng chớm đau, các huyệt hai bên má, quanh miệng và riêng huyệt Giáp sa, tác dụng kích hoạt dây chằng, thần kinh, làm dày, khỏe niêm mạc miệng, phòng chống những tổn thương rất hay gặp ở dạng bóng, nước, loét, liken - đường chỉ trắng, vàng hoặc đỏ kéo từ chân răng hàm tới mép trong miệng gây nhiễm khuẩn mạn tính, dễ chuyển sang ung thư. Sách cổ còn ghi trước khi đi tiểu cắn răng 36 lần, luyện trong 3 tháng thì hết đau răng.
Mỗi sáng dậy, đầu lưỡi lia quét lên hai hàm răng trên dưới trong ngoài, lia qua hai bên má là cách mát-xa rất tốt cho cả lưỡi, miệng chống viêm nhiễm, lở loét. Hai hàm răng dập vào nhau 20 - 50 lần cho chắc chân răng. Hai thao tác lưỡi và răng này giúp tác động tới gan, mật với hiện tuợng miệng đắng, khô miệng, kích hoạt các tuyến nước bọt sản xuất “cam lồ”, làm động tác nuốt “ực ực” tốt cho cả khoang miệng vòm họng.
Xoay day huyệt đạo
Người xưa có câu “Đau răng không phải bệnh mà là mệnh”, ta hiểu nó thuộc cơ địa đã “lập trình”. Chúng tôi theo dõi và kinh nghiệm cá nhân cho thấy ai có ngón tay trỏ nhỏ và nhọn thường hay bị bệnh răng lợi và xương khớp chi dưới đau, vai cứng bên nào thì cũng thường răng bên ấy đang bị bệnh. Lại nhớ, triết thuyết Đông phương, con người là một vũ trụ nhỏ, mọi cơ quan bộ phận trong cơ thể liên quan chặt chẽ với nhau nên việc day ấn huyệt vị rất tác dụng, phòng, giảm hoặc khỏi đau. Dĩ nhiên, bệnh nặng cấp tính cần đi khám, dùng thuốc.
Các huyệt đạo phòng trị răng miệng nhiều, có thể tham khảo đúc kết ở mặt theo đồ hình 1, ở tay đồ hình 2. Riêng huyệt Giáp xa ở góc xương hàm dưới, chỗ cơ nổi lên khi cắn răng, răng đang đau, ấn mạnh huyệt này lúc đầu đau tê, lát sau hết đau, rất dễ chịu. Có thể phân chia: Đau răng hàm trên bấm các huyệt Hạ quan, Ế phong, Thính cung, Giáp xa, Thái khê, Hợp cốc chuyên trị đau răng, họng, ù tai, chảy máu cam, tê bàn tay, ngón tay…
Chứng đau thần kinh chạc ba dễ lan tới khớp hàm, đau gáy, cứng cổ tưởng như đau răng từng cơn dăm phút dữ dội, nhai nuốt, há miệng khó khăn. Dùng biện pháp mát-xa rất hiệu nghiệm.
Phân biệt đau răng với đau lợi
Nhiều cơn đau mất ăn, mất ngủ khiến người bệnh nghĩ do răng. Nhưng không, do ổ mủ của lợi (nướu) mà người “ngại” đánh răng, đánh răng thiếu vệ sinh hoặc do ăn uống thiếu dưỡng chất làm suy giảm chức năng liên kết bền chặt của lợi với răng. Khi mới bị hở, lợi xốp, phồng lên, sưng đỏ, chớm đau, chảy máu, chỗ loét nhanh chóng mưng mủ, rỉ ra ở kẽ răng, chân răng, tức phần lợi bị hủy hoại.
Không nên dùng bàn chải lông cứng chà xát, mà dùng bàn chải lông mềm, ngón tay mềm, nhẹ điều khiển việc chà xát trong ngoài, mặt bên với nước muối hạt pha loãng và súc miệng kĩ để nước thấm qua các kẽ răng.
Thử tự chế thuốc
Lương y người Nhật C.A-ki-ra chuyên nghiên cứu, giới thiệu “thuốc vuờn nhà” trên Tạp chí Y dược Nhật Bản, đã công bố bài thuốc: Dùng tai cà tươi gói vào giấy thiếc đặt lên xoong chảo, đốt thành than đen rồi tán nhỏ thành bột, trộn với muối rang tán thành bột lượng bằng nhau, thành thứ kem đánh răng tuyệt hảo làm răng trắng, sạch, phòng chống bệnh răng lợi cực tốt với bà con ở các vùng sâu, vùng cao. Ông gọi là “thuốc đặc trị ổ mủ chân răng”. Bài thuốc thứ hai, dùng hà thủ ô trắng, đỏ đều được phơi trong râm, rửa sạch bằng nước muối, khi đi ngủ kẹp miếng hà thủ ô giữa lợi và má, sáng dậy bỏ ra, có mủ thì mủ ra theo. Kẹp liên tục cả ngày càng nhanh khỏi.
Người Trung Quốc mách nhau “thuốc quanh ta” có ba toa dễ kiếm để chữa giảm đau ngay: Một là, cắt một miếng gừng sống đặt vào chỗ răng lợi đau, cắn chặt, nóng rát quá thì dừng lại. Bài hai, 10 quả vải chín, bỏ ít muối vào cùi, sao khô tán bột, cho vào lọ giữ kín, bôi vào chỗ răng đau coi như “tủ thuốc gia đình”. Ba là, long nhãn và băng phiến tán bột, dấp nước bọt cho bột dính vào ngón tay bôi vào chỗ đau, bảo người bệnh hít khí “thuốc” vào dịu đau ngay. Giữ “thuốc” rồi nhổ ra không nuốt. Cách tốt khác, rẻ tiền là nhai lá Lược vàng ngày 6 lá, chia 3 lần, nuốt cả lá lẫn nước.
Ăn uống với răng lợi
Nguyên tắc chung: kẻ thù của răng là đường, dù là kẹo, bánh, đồ ngọt, thức ăn đồ uống chế xuất từ gạo, mì, v.v… Do ăn uống xong, chất ngọt vẫn bám vào men răng, tạo môi trường a-xít để đưa… "sâu" vào răng lợi. Nhưng chất ngọt từ trái cây, rau xanh, củ rễ… lại rất tốt cho răng lợi và tiêu hóa. Ăn đồ sống trước khi ăn đồ chín chừng một giờ tốt hơn do tránh được phản ứng tăng bạch cầu, bảo vệ hệ miễn dịch của cơ thể. Răng lợi rất kị đồ ăn, thức uống quá nóng, quá lạnh, chua, cay, ôi thiu…
Chăm sóc răng lợi
Ăn xong nên đánh răng không chỉ chải ngang hàm răng như chải giặt quần áo mà đổi chiều đứng dọc các kẽ răng vừa sạch các mảng bám giắt, vừa tránh được hiện tượng mài mòn men trên bề mặt do răng bị chà xát nhiều. Chải vòng quanh chân răng để mát-xa, làm chắc chân răng.
Hàm răng giả làm đúng cách, không để trầy, loét niêm mạc lợi và chải sạch sau bữa ăn, ngâm rửa qua đêm, có trục trặc cần chỉnh sửa. Khám răng định kì năm 1, 2 lần là yêu cầu cuối cùng của răng chắc thì người khỏe. Có câu "Cái răng, cái tóc là góc con người". Biết cách chăm sóc răng lợi thì răng chắc đẹp ắt người khỏe
Trịnh Tố Long
Theo Báo người cao tuổi
VinacomBank.com Phân tích Tài chính Ngân Hàng, Doanh Nghiệp Việt Nam Thế Giới. Tin tức thị trường BĐS, kinh doanh, tiền tệ, chứng khoán, giá vàng hiện nay.
Showing posts with label Bệnh vùng miệng. Show all posts
Showing posts with label Bệnh vùng miệng. Show all posts
Wednesday, December 28, 2011
Thursday, November 24, 2011
Mối liên hệ giữa vệ sinh răng miệng và bệnh tim
Ngày 14/11/2011, Hội nghị của Hội Tim mạch Mỹ ở thành phố Orlando, bang Florida đã công bố nghiên cứu của các nhà khoa học Đài Loan khẳng định những người làm sạch răng hàng năm tại các phòng khám chữa răng có thể giảm đáng kể nguy cơ mắc bệnh tim và đột quỵ.
Nghiên cứu hồ sơ của 102.620 bệnh nhân không có tiền sử bệnh tim mạch hoặc đột quỵ trong vòng 7 năm, các nhà khoa học phát hiện những người làm sạch răng hàng năm tại các phòng khám nha khoa có thể giảm tới 24% nguy cơ bệnh tim, 13% nguy cơ đột quỵ so với những người không làm sạch răng thường xuyên hàng năm.
Những người làm sạch răng 2 năm một lần giảm được 13% nguy cơ mắc bệnh tim mạch và giảm 9% nguy cơ bị đột quỵ. Đây là phát hiện đầu tiên về mối liên quan giữa vệ sinh răng miệng với nguy cơ gây các bệnh tim mạch và đột quỵ ở người.
Nghiên cứu cho thấy răng sạch làm giảm vi khuẩn có thể gây viêm nhiễm kinh niên ở miệng. Sự viêm nhiễm này đưa một dạng bựa răng vào mạch máu làm cứng các động mạch gây bệnh tim và đột quỵ. Vì vậy, vệ sinh răng miệng là rất quan trọng.
Các nhà khoa học đang tiếp tục nghiên cứu cách thức của việc làm sạch răng giúp cải thiện chức năng của tim và mạch máu, từ đó xác định liệu làm sạch răng có thể giúp giảm nguy cơ mắc các bệnh khác như ung thư và suy giảm hệ miễn dịch hay không.
Một nghiên cứu khác của các nhà khoa học Thuỵ Điển cho thấy những người có số răng ít hơn 21 chiếc có nguy cơ bệnh tim mạch cao hơn 69% so với những người có răng nhiều hơn. Trung bình, người trưởng thành có 32 chiếc răng. Những người hay bị viêm lợi quanh chân răng có nguy cơ mắc bệnh tim mạch cao hơn 53% so với những người có số lần viêm lợi ít hơn.
Theo Vietnam+
Nghiên cứu hồ sơ của 102.620 bệnh nhân không có tiền sử bệnh tim mạch hoặc đột quỵ trong vòng 7 năm, các nhà khoa học phát hiện những người làm sạch răng hàng năm tại các phòng khám nha khoa có thể giảm tới 24% nguy cơ bệnh tim, 13% nguy cơ đột quỵ so với những người không làm sạch răng thường xuyên hàng năm.
Những người làm sạch răng 2 năm một lần giảm được 13% nguy cơ mắc bệnh tim mạch và giảm 9% nguy cơ bị đột quỵ. Đây là phát hiện đầu tiên về mối liên quan giữa vệ sinh răng miệng với nguy cơ gây các bệnh tim mạch và đột quỵ ở người.
Nghiên cứu cho thấy răng sạch làm giảm vi khuẩn có thể gây viêm nhiễm kinh niên ở miệng. Sự viêm nhiễm này đưa một dạng bựa răng vào mạch máu làm cứng các động mạch gây bệnh tim và đột quỵ. Vì vậy, vệ sinh răng miệng là rất quan trọng.
Các nhà khoa học đang tiếp tục nghiên cứu cách thức của việc làm sạch răng giúp cải thiện chức năng của tim và mạch máu, từ đó xác định liệu làm sạch răng có thể giúp giảm nguy cơ mắc các bệnh khác như ung thư và suy giảm hệ miễn dịch hay không.
Một nghiên cứu khác của các nhà khoa học Thuỵ Điển cho thấy những người có số răng ít hơn 21 chiếc có nguy cơ bệnh tim mạch cao hơn 69% so với những người có răng nhiều hơn. Trung bình, người trưởng thành có 32 chiếc răng. Những người hay bị viêm lợi quanh chân răng có nguy cơ mắc bệnh tim mạch cao hơn 53% so với những người có số lần viêm lợi ít hơn.
Theo Vietnam+
Hàm răng người co dần theo thời gian
Một nghiên cứu kéo dài hơn 40 năm cho thấy kích thước hàm răng của người giảm dần theo tuổi tác của chúng ta.
Lars Bondemark, giáo sư khoa chỉnh hình răng hàm mặt Đại học Malmo tại Thụy Điển, cùng các đồng nghiệp quan sát các khuôn quai hàm làm bằng thạch cao của các sinh viên nha khoa năm 1949 khi họ ở độ tuổi đôi mươi. Sau đó nhóm nghiên cứu so sánh các khuôn ấy với các mẫu khuôn quai hàm của chính những sinh viên nha khoa đó vào năm 1959 và 1989, Healthday đưa tin.
"Chúng tôi nhận thấy sau hơn 40 năm, hàm răng của con người ngày càng nhỏ”. Bondemark phát biểu trong một cuộc họp báo.
Trên thực tế, tuổi con người càng tăng thì chiều dài và chiều rộng hàm răng – chủ yếu là hàm dưới – càng giảm. Tình trạng ấy khiến khoảng cách giữa các răng trước ngày càng giảm.
Mức độ teo hàm của mỗi người là không giống nhau do tác động của yếu tố di truyền và kết cấu. Trong một vài trường hợp, những thay đổi này lớn đến nỗi chúng ta có thể nhận ra sự bất thường khi nhai, cắn.
"Trong trường hợp đó, chúng ta không nên lo lắng quá mức bởi đó là hiện tượng bình thường. Tuy nhiên, các nha sĩ cũng nên xem xét tình trạng teo hàm liên tục của bệnh nhân khi tìm hiểu khả năng nhai, cắn của họ”, giáo sư Bondemark nói
Vị giáo sư nhận định rằng chúng ta có thể loại bỏ khả năng răng khôn là nguyên nhân làm cho các răng trước bị dồn, bởi ngay cả những người chẳng có chiếc răng khôn nào vẫn có nguy cơ sở hữu hàng răng trước dày sít.
Theo Vnexpress
Lars Bondemark, giáo sư khoa chỉnh hình răng hàm mặt Đại học Malmo tại Thụy Điển, cùng các đồng nghiệp quan sát các khuôn quai hàm làm bằng thạch cao của các sinh viên nha khoa năm 1949 khi họ ở độ tuổi đôi mươi. Sau đó nhóm nghiên cứu so sánh các khuôn ấy với các mẫu khuôn quai hàm của chính những sinh viên nha khoa đó vào năm 1959 và 1989, Healthday đưa tin.
"Chúng tôi nhận thấy sau hơn 40 năm, hàm răng của con người ngày càng nhỏ”. Bondemark phát biểu trong một cuộc họp báo.
Trên thực tế, tuổi con người càng tăng thì chiều dài và chiều rộng hàm răng – chủ yếu là hàm dưới – càng giảm. Tình trạng ấy khiến khoảng cách giữa các răng trước ngày càng giảm.
Mức độ teo hàm của mỗi người là không giống nhau do tác động của yếu tố di truyền và kết cấu. Trong một vài trường hợp, những thay đổi này lớn đến nỗi chúng ta có thể nhận ra sự bất thường khi nhai, cắn.
"Trong trường hợp đó, chúng ta không nên lo lắng quá mức bởi đó là hiện tượng bình thường. Tuy nhiên, các nha sĩ cũng nên xem xét tình trạng teo hàm liên tục của bệnh nhân khi tìm hiểu khả năng nhai, cắn của họ”, giáo sư Bondemark nói
Vị giáo sư nhận định rằng chúng ta có thể loại bỏ khả năng răng khôn là nguyên nhân làm cho các răng trước bị dồn, bởi ngay cả những người chẳng có chiếc răng khôn nào vẫn có nguy cơ sở hữu hàng răng trước dày sít.
Theo Vnexpress
Tuesday, August 23, 2011
Ba loại vỏ cây chữa đau răng, viêm họng
Một hôm tôi đến thăm cụ giáo Phạm Hữu Quỳnh, thấy hai cụ đang ăn ngô rang còn nóng hổi, nhai rau ráu rất ngon lành mặc dù cụ ông 90 tuổi, cụ bà 88 tuổi. Hỏi thăm “bí quyết” giữ gìn hàm răng, hai cụ cho biết: “Vì tôi có bài thuốc sâu răng ngậm là khỏi”. Trong khi đó, tôi ít tuổi hơn nhiều mà 3 cái đang lung lay sắp phải nhổ, không ăn được ngô. Tôi hỏi bài thuốc chữa sâu răng, cụ ông nói ngay.
Tôi về và đi đẽo ngay vỏ cây duối được 4 -5 lạng, vỏ cây đại 3 lạng, vỏ cây núc nác 3 lạng. Cả ba
Vỏ cây núc nác phơi khô.
thứ đó đem về băm nhỏ, phơi khô, rồi cho vào chai lọ (loại to) đổ rượu trắng vào ngâm, rượu ngập trên số vỏ trong bình độ 3-4 cm. Ngâm khoảng 10 -15 ngày đem ra dùng. Trước khi dùng phải lắc kĩ, cho đều. Thời kì đau răng ngày phải ngậm 2-3 lần, rót vào cái chén nhỏ ngậm trong vòng 10 -15 phút rồi nhổ đi, không nên nuốt rượu đó. Ai răng đau lung lay thì tiếp tục mỗi buổi tối phải ngậm một lần trong ngày đến khi răng chặt không đau thì thôi.
Khi nào thấy răng hơi đau, họng hơi đau lại lấy rượu đó ra ngậm vài ngày là khỏi. Trước đây tôi bị viêm họng hạt nặng phải dùng nhiều kháng sinh chỉ đỡ ít lâu, nay rượu vỏ cây ngậm súc miêng vài lần là khỏi. Ngâm một chai thuốc vỏ cây dùng cả năm.
Cảm ơn cụ giáo Phạm Hữu Quỳnh cho bài thuốc đơn giản, dễ làm mà hiệu quả chữa được hai bệnh. Đã 12 năm qua tôi không bị đau răng hay viêm họng như trước nữa; ăn ngủ ngon lành.
Đây là bài thuốc đơn giản, ở nông thôn dễ kiếm, dễ làm, không độc hại, khỏi bệnh mà không mất tiền. Bài thuốc này tôi cũng đã phổ biến cho nhiều người chữa bệnh thành công.
Lương Phúc Huyên - Xóm 7 thôn Hội Đồng, xã Đức Lý, huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam, ĐT: 0351.6298.295
Tôi về và đi đẽo ngay vỏ cây duối được 4 -5 lạng, vỏ cây đại 3 lạng, vỏ cây núc nác 3 lạng. Cả ba
Vỏ cây núc nác phơi khô.
thứ đó đem về băm nhỏ, phơi khô, rồi cho vào chai lọ (loại to) đổ rượu trắng vào ngâm, rượu ngập trên số vỏ trong bình độ 3-4 cm. Ngâm khoảng 10 -15 ngày đem ra dùng. Trước khi dùng phải lắc kĩ, cho đều. Thời kì đau răng ngày phải ngậm 2-3 lần, rót vào cái chén nhỏ ngậm trong vòng 10 -15 phút rồi nhổ đi, không nên nuốt rượu đó. Ai răng đau lung lay thì tiếp tục mỗi buổi tối phải ngậm một lần trong ngày đến khi răng chặt không đau thì thôi.
Khi nào thấy răng hơi đau, họng hơi đau lại lấy rượu đó ra ngậm vài ngày là khỏi. Trước đây tôi bị viêm họng hạt nặng phải dùng nhiều kháng sinh chỉ đỡ ít lâu, nay rượu vỏ cây ngậm súc miêng vài lần là khỏi. Ngâm một chai thuốc vỏ cây dùng cả năm.
Cảm ơn cụ giáo Phạm Hữu Quỳnh cho bài thuốc đơn giản, dễ làm mà hiệu quả chữa được hai bệnh. Đã 12 năm qua tôi không bị đau răng hay viêm họng như trước nữa; ăn ngủ ngon lành.
Đây là bài thuốc đơn giản, ở nông thôn dễ kiếm, dễ làm, không độc hại, khỏi bệnh mà không mất tiền. Bài thuốc này tôi cũng đã phổ biến cho nhiều người chữa bệnh thành công.
Lương Phúc Huyên - Xóm 7 thôn Hội Đồng, xã Đức Lý, huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam, ĐT: 0351.6298.295
Nhìn đôi môi dễ dàng "bắt" bệnh
[Afamily.vn, 17/8/2011] - Hình dạng của đôi môi của bạn có thể xác định bạn có thích quan hệ tình dục hay không, một nghiên cứu mới đã tiết lộ.
Các chuyên gia tin rằng phụ nữ có môi trên cong, chẳng hạn như Angelina Jolie và Megan Fox sẽ nhận được nhiều “niềm vui sướng” hơn trên giường.
Nhưng hình dạng đôi môi của bạn cũng chính là tín hiệu cảnh báo về sức khỏe của bạn. Chẳng hạn như, đôi môi khô hoặc đau có thể là dấu hiệu của cứ điều gì liên quan bệnh tiểu đường để bệnh herpes hoặc crohn.
Bác sĩ da liễu Shona Birch, người điều hành một phòng mạch tư ở Sevenoaks, Kent, cho biết: "Thời tiết nóng hoặc lạnh có thể khiến cho đôi môi bạn bị khô hoặc nứt. Nhưng nó cũng có thể là triệu chứng của bệnh gì đó nghiêm trọng hơn. Nếu các triệu chứng vẫn tồn tại và bạn không thể biết được lý do mình mắc phải thì bạn nên tham khảo ý kiến bác sĩ”.
Có rất nhiều điều bạn có thể làm để giữ cho đôi môi của mình khỏe mạnh, ví dụ như:
- Sử dụng kem dưỡng môi với kem chống nắng để bảo vệ
- Không liếm môi khi trời lạnh, vì làm như vậy sẽ khiến môi bạn càng khô hơn
- Dùng dầu bôi trơn có nguồn gốc từ nước để bôi môi khi ngủ vào ban đêm để giữ ẩm cho môi
Dưới đây là một số dấu hiệu sức khỏe mà bạn có thể dự đoán được khi nhìn vào đôi môi của mình:
1. Nứt môi
Dấu hiệu bệnh: Tiểu đường
Môi nứt rất phổ biến và trong nhiều trường hợp có thể là bình thường trong khi cũng có thể là do thiếu máu nhẹ. Thiếu máu nhẹ cũng có thể dẫn đến vết nứt hoặc vết loét ở góc miệng. Nhưng trong trường hợp cá biệt, nó có thể là một dấu hiệu của bệnh tiểu đường không được chẩn đoán. Khi lượng đường trong máu tăng lên, sẽ kích thích sự phát triển của một loại nấm có thể tấn công môi.
2. Sưng môi
Dấu hiệu bệnh: bệnh Crohn
Hầu hết mọi người biết rằng bệnh Crohn ảnh hưởng đến ruột. Nhưng nó cũng có thể xuất hiện trong miệng và môi. Bệnh này ảnh hưởng đến một trong 1.000 người ở Anh, có thể gây viêm và sưng ở các bộ phận khác nhau của cơ thể, bao gồm cả môi. Nó thậm chí còn có tên của nó – Crohn ở mồm. Khoảng 10% các bệnh Crohn cũng bị ảnh hưởng xung quanh miệng.
3. Rộp môi
Dấu hiệu bệnh: Herpes
Một cảm giác nóng rát trên môi có thể là một trong những dấu hiệu đầu tiên của một đợt bùng phát virus herpes, gây lở loét. Trong khoảng 24 giờ, mụn nước có thể bắt đầu xuất hiện phía trên và xung quanh môi, gây đau đớn, và sau một vài ngày, những nốt mụn này có thể vỡ và rò rỉ dịch gây lây lan. Trong trường hợp này, tránh chạm vào những vết loét, hôn nhau hoặc thậm chí chia sẻ xà phòng, hoặc son môi.
4. Tê môi
Dấu hiệu bệnh: Dị ứng nghiêm trọng
Tê hoặc ngứa ran ở môi, đặc biệt là nếu bị sưng, có thể là một dấu hiệu của một phản ứng dị ứng nghiêm trọng với thực phẩm hoặc hóa chất. Theo ý kiến của bác sĩ thì lúc này, cơ thể đang phát hành một lượng lớn các histamine hormone vào máu trong một phản ứng bởi hệ thống miễn dịch khiến môi bị tê.
5. Môi tím tái
Dấu hiệu bệnh: Thiếu oxy
Đi màu xanh xung quanh miệng và môi là một dấu hiệu chắc chắn của một thiếu oxy. Ở trẻ em, nó có thể là một triệu chứng của bệnh đường hô hấp và là nguyên nhân gây ho, khàn tiếng.
Ở người lớn, đôi môi tím tái thường là một triệu chứng khi tim đang gặp khó khăn để bơm máu giàu oxy đi khắp cơ thể. Triệu chứng này thường thấy ở những người bị suy tim mãn tính.
6. Môi phát ban
Dấu hiệu bệnh: Eczema
Một phát ban xung quanh các cạnh của miệng thường là do da khô gây ra bởi liếm môi quá nhiều hoặc mút ngón tay. Được mệnh danh là "liếm eczema", nên rõ ràng khi dừng các thói quen này lại cũng như thường xuyên bôi kem hydrocortisone một vài ngày thì hiện tượng này sẽ giảm đi nhanh chóng.
7. Môi đau và lạnh
Dấu hiệu bệnh: Do chế độ ăn uống nghèo nàn
Một chế độ ăn uống nghèo dinh dưỡng, kết hợp với căng thẳng, thiếu ngủ thường có tác động mạnh khiến môi bị đau và bị lạnh. Bạn cũng nên tránh các loại thực phẩm và đồ uống phong phú trong một acid amin được gọi là arginine, chẳng hạn như đậu phộng, hạt điều, sô-cô-la, bia và nước giải khát
Các chuyên gia tin rằng phụ nữ có môi trên cong, chẳng hạn như Angelina Jolie và Megan Fox sẽ nhận được nhiều “niềm vui sướng” hơn trên giường.
Nhưng hình dạng đôi môi của bạn cũng chính là tín hiệu cảnh báo về sức khỏe của bạn. Chẳng hạn như, đôi môi khô hoặc đau có thể là dấu hiệu của cứ điều gì liên quan bệnh tiểu đường để bệnh herpes hoặc crohn.
Bác sĩ da liễu Shona Birch, người điều hành một phòng mạch tư ở Sevenoaks, Kent, cho biết: "Thời tiết nóng hoặc lạnh có thể khiến cho đôi môi bạn bị khô hoặc nứt. Nhưng nó cũng có thể là triệu chứng của bệnh gì đó nghiêm trọng hơn. Nếu các triệu chứng vẫn tồn tại và bạn không thể biết được lý do mình mắc phải thì bạn nên tham khảo ý kiến bác sĩ”.
Có rất nhiều điều bạn có thể làm để giữ cho đôi môi của mình khỏe mạnh, ví dụ như:
- Sử dụng kem dưỡng môi với kem chống nắng để bảo vệ
- Không liếm môi khi trời lạnh, vì làm như vậy sẽ khiến môi bạn càng khô hơn
- Dùng dầu bôi trơn có nguồn gốc từ nước để bôi môi khi ngủ vào ban đêm để giữ ẩm cho môi
Dưới đây là một số dấu hiệu sức khỏe mà bạn có thể dự đoán được khi nhìn vào đôi môi của mình:
1. Nứt môi
Dấu hiệu bệnh: Tiểu đường
Môi nứt rất phổ biến và trong nhiều trường hợp có thể là bình thường trong khi cũng có thể là do thiếu máu nhẹ. Thiếu máu nhẹ cũng có thể dẫn đến vết nứt hoặc vết loét ở góc miệng. Nhưng trong trường hợp cá biệt, nó có thể là một dấu hiệu của bệnh tiểu đường không được chẩn đoán. Khi lượng đường trong máu tăng lên, sẽ kích thích sự phát triển của một loại nấm có thể tấn công môi.
2. Sưng môi
Dấu hiệu bệnh: bệnh Crohn
Hầu hết mọi người biết rằng bệnh Crohn ảnh hưởng đến ruột. Nhưng nó cũng có thể xuất hiện trong miệng và môi. Bệnh này ảnh hưởng đến một trong 1.000 người ở Anh, có thể gây viêm và sưng ở các bộ phận khác nhau của cơ thể, bao gồm cả môi. Nó thậm chí còn có tên của nó – Crohn ở mồm. Khoảng 10% các bệnh Crohn cũng bị ảnh hưởng xung quanh miệng.
3. Rộp môi
Dấu hiệu bệnh: Herpes
Một cảm giác nóng rát trên môi có thể là một trong những dấu hiệu đầu tiên của một đợt bùng phát virus herpes, gây lở loét. Trong khoảng 24 giờ, mụn nước có thể bắt đầu xuất hiện phía trên và xung quanh môi, gây đau đớn, và sau một vài ngày, những nốt mụn này có thể vỡ và rò rỉ dịch gây lây lan. Trong trường hợp này, tránh chạm vào những vết loét, hôn nhau hoặc thậm chí chia sẻ xà phòng, hoặc son môi.
4. Tê môi
Dấu hiệu bệnh: Dị ứng nghiêm trọng
Tê hoặc ngứa ran ở môi, đặc biệt là nếu bị sưng, có thể là một dấu hiệu của một phản ứng dị ứng nghiêm trọng với thực phẩm hoặc hóa chất. Theo ý kiến của bác sĩ thì lúc này, cơ thể đang phát hành một lượng lớn các histamine hormone vào máu trong một phản ứng bởi hệ thống miễn dịch khiến môi bị tê.
5. Môi tím tái
Dấu hiệu bệnh: Thiếu oxy
Đi màu xanh xung quanh miệng và môi là một dấu hiệu chắc chắn của một thiếu oxy. Ở trẻ em, nó có thể là một triệu chứng của bệnh đường hô hấp và là nguyên nhân gây ho, khàn tiếng.
Ở người lớn, đôi môi tím tái thường là một triệu chứng khi tim đang gặp khó khăn để bơm máu giàu oxy đi khắp cơ thể. Triệu chứng này thường thấy ở những người bị suy tim mãn tính.
6. Môi phát ban
Dấu hiệu bệnh: Eczema
Một phát ban xung quanh các cạnh của miệng thường là do da khô gây ra bởi liếm môi quá nhiều hoặc mút ngón tay. Được mệnh danh là "liếm eczema", nên rõ ràng khi dừng các thói quen này lại cũng như thường xuyên bôi kem hydrocortisone một vài ngày thì hiện tượng này sẽ giảm đi nhanh chóng.
7. Môi đau và lạnh
Dấu hiệu bệnh: Do chế độ ăn uống nghèo nàn
Một chế độ ăn uống nghèo dinh dưỡng, kết hợp với căng thẳng, thiếu ngủ thường có tác động mạnh khiến môi bị đau và bị lạnh. Bạn cũng nên tránh các loại thực phẩm và đồ uống phong phú trong một acid amin được gọi là arginine, chẳng hạn như đậu phộng, hạt điều, sô-cô-la, bia và nước giải khát
Monday, July 18, 2011
Đi bơi coi chừng hỏng răng
Đi hồ bơi mùa hè là thú vui của nhiều người. Nhưng đổi lại, bạn có thể bị khô da, đổi màu tóc và theo một nghiên cứu mới nhất, là mất men răng.
Các nha sĩ từ lâu đã biết rằng bơi có thể phá hủy men răng, đặc biệt nếu nước hồ không được xử lý hợp lý.
Thực tế, từ năm 1986, một khảo sát trên 747 vận động viên bơi lội công bố trên tạp chí Bệnh dịch học Mỹ đã tìm thấy 39% trong số họ bị hỏng men răng.
Trong một báo cáo gần đây, các nha sĩ từ Trường nha khoa, Đại học New York đã phân tích trường hợp của một người đàn ông 52 tuổi, phàn nàn rằng răng nhạy cảm, xỉn màu và mất men nhanh chóng, chỉ trong vòng 5 tháng qua.
Lý giải logic duy nhất cho những thay đổi đột ngột này, các nhà nghiên cứu chỉ ra rằng đó là vì ông mới đi bơi, đều đặn 90 phút mỗi ngày.
Sự mất men răng xảy ra khi pH trong nước hồ bơi xuống quá thấp, nghĩa là có tính axit cao. Nếu bạn từng đi bơi và mắt bạn bắt đầu chảy nước hoặc mũi nóng rực khi mới ngửi thấy nước hồ, đó là do pH thấp (chứ không nhất thiết là do quá nhiều chất khử trùng clo). Khi pH quá thấp, nước trở nên có tính ăn mòn và có thể phá hủy các bề mặt như răng, và kích thích da.
Trong nghiên cứu năm 1986, pH của nước hồ được phát hiện chỉ là 2,7, thấp hơn nhiều so với yêu cầu là từ 7,2 đến 7,8.
Còn người đàn ông trong nghiên cứu của Trường nha khoa, Đại học New York thừa nhận rằng ông không bao giờ xử lý nước hồ bơi phù hợp, và không biết độ pH của nó.
Một lý do khác cần quan tâm về độ pH không phù hợp của hồ bơi là nó có thể ảnh hưởng đến tác dụng của nước khử trùng clo. Khi pH trở nên quá thấp hoặc quá cao, clo hoặc là bị phân tán quá nhanh hoặc khả năng khử khuẩn của nó giảm xuống. Kết quả là, các vi khuẩn gây bệnh có thể sinh sôi.
Để bảo vệ mình, bạn có thể mua các test thử pH, tối ưu là từ 7,2 đến 7,8. Hãy thử cả ở hồ bơi lẫn các khu nghịch nước của trẻ, chúng cũng cần độ pH tương đương như hồ bơi.
T. An
Các nha sĩ từ lâu đã biết rằng bơi có thể phá hủy men răng, đặc biệt nếu nước hồ không được xử lý hợp lý.
Thực tế, từ năm 1986, một khảo sát trên 747 vận động viên bơi lội công bố trên tạp chí Bệnh dịch học Mỹ đã tìm thấy 39% trong số họ bị hỏng men răng.
Trong một báo cáo gần đây, các nha sĩ từ Trường nha khoa, Đại học New York đã phân tích trường hợp của một người đàn ông 52 tuổi, phàn nàn rằng răng nhạy cảm, xỉn màu và mất men nhanh chóng, chỉ trong vòng 5 tháng qua.
Lý giải logic duy nhất cho những thay đổi đột ngột này, các nhà nghiên cứu chỉ ra rằng đó là vì ông mới đi bơi, đều đặn 90 phút mỗi ngày.
Sự mất men răng xảy ra khi pH trong nước hồ bơi xuống quá thấp, nghĩa là có tính axit cao. Nếu bạn từng đi bơi và mắt bạn bắt đầu chảy nước hoặc mũi nóng rực khi mới ngửi thấy nước hồ, đó là do pH thấp (chứ không nhất thiết là do quá nhiều chất khử trùng clo). Khi pH quá thấp, nước trở nên có tính ăn mòn và có thể phá hủy các bề mặt như răng, và kích thích da.
Trong nghiên cứu năm 1986, pH của nước hồ được phát hiện chỉ là 2,7, thấp hơn nhiều so với yêu cầu là từ 7,2 đến 7,8.
Còn người đàn ông trong nghiên cứu của Trường nha khoa, Đại học New York thừa nhận rằng ông không bao giờ xử lý nước hồ bơi phù hợp, và không biết độ pH của nó.
Một lý do khác cần quan tâm về độ pH không phù hợp của hồ bơi là nó có thể ảnh hưởng đến tác dụng của nước khử trùng clo. Khi pH trở nên quá thấp hoặc quá cao, clo hoặc là bị phân tán quá nhanh hoặc khả năng khử khuẩn của nó giảm xuống. Kết quả là, các vi khuẩn gây bệnh có thể sinh sôi.
Để bảo vệ mình, bạn có thể mua các test thử pH, tối ưu là từ 7,2 đến 7,8. Hãy thử cả ở hồ bơi lẫn các khu nghịch nước của trẻ, chúng cũng cần độ pH tương đương như hồ bơi.
T. An
Friday, June 10, 2011
Điều cần biết khi chỉnh nha cho trẻ
Thông thường, khi trẻ 6 tuổi cũng là lúc răng vĩnh viễn bắt đầu mọc. Lúc này, một quá trình chăm sóc, theo dõi quá trình hoàn thiện hàm răng vĩnh viễn của trẻcần thực sự được chú trọng. Đây cũng là thời gian thuận lợi để khắc phục những chiếc răng mọc không đúng chỗ.
Chỉnh nha mang lại nhiều lợi ích
Chỉnh nha giúp trẻ nhai thức ăn dễ dàng hơn, điều kiện quan trọng cho tiêu hoá tốt. Để trẻ có khả năng này, hàm răng của chúng phải tương thích với nhau; Giúp trẻ phát âm và diễn đạt tốt, thực tế rất nhiều lỗi phát âm do răng mọc lệch. Kiểu nói dớt, nói xuýt, nói như có tóc dính trên lưỡi… có thể chữa khỏi được vĩnh viễn bằng việc chỉnh răng. Chỉnhnha còn giúp trẻ thở tốt hơn, không phải há miệng thở khi ngủ, giảm mắc các bệnh đường hô hấp, tạo đường nét thẩm mỹ cho khuôn mặt. Răng thẳng hàng và khớp với nhau là yếu tố quan trọng cho vị trí của môi, cằm và đường nét bên dưới khuôn mặt. Khi lớn lên, một hàm răng xấu còn có thể lấy đi nhiều cơ hội cả trong công việc và cuộc sống.
Thời điểm nào nên chỉnh nha?
Nhìn chung, thời điểm tốt nhất để điều trị chỉnh hình răng hàm mặt là khi các răng vĩnh viễn đã mọc (10 - 12 tuổi). Ở lứa tuổi này, xương hàm đang phát triển, rất thuận lợi cho việc nới rộng và sắp xếp lại các răng. Nên đưa trẻ đến bác sĩ nha khoa ngay từ khi trẻ bắt đầu thay răng, tùy thuộc vào tình trạng răng sữa sắp thay, hình dáng cung hàm, các thói quen xấu mà trẻ mắc phải… bác sĩ sẽ đánh giá tình hình bệnh và quyết định thời điểm điều trị. Một số trường hợp cần được giải quyết sớm, không chờ đến khi rụng hết răng sữa vì lúc đó, sự lệch lạc răng sẽ trầm trọng hơn.Việc chỉnh hình răng mặt cũng có thể thực hiện ở người lớn nếu tình trạng răng miệng của bệnh nhân còn tốt. Hiệu quả điều trị sẽ hạn chế nếu bệnh nhân đã ngoài 20 tuổi.
Dụng cụ được các nha sĩ thường dùng để chỉnh răng là vòng kẹp răng (niềng răng) đeo vào hàm răng của trẻ. Thời gian trung bình của điều trị là từ 2 - 2,5 năm. Dụng cụ này có thể phải kéo dài thời gian mang ngay cả khi răng đã được ép mọc đúng vị trí. Nha sĩ sẽ là người quyết định cuối cùng xem khi nào không cần mang nữa. Trong thời gian kẹp răng sẽ làm cho trẻ rất khó chịu, nhất là vài tuần đầu, cha mẹ cần phải thuyết phục cho trẻ hiểu rằng càng kiên trì mang kẹp thì thời gian điều trị sẽ ngắn lại, giúp trẻ quen dần và hài lòng với sự biến đổi từ từ trong miệng. Cần khuyến khích trẻ khi bắt đầu thấy có những kết quả đầu tiên, khiến cho trẻ cảm thấy như sự kỳ diệu về hàm răng đang dần dần mọc đúng vị trí, đẹp đẽ và thẳng thắn như mọi người.
Lưu ý: Trong thời gian mang kẹp răng, phải nghiêm túc thực hiện tháo lắp đúng theo sự hướng dẫn của bác sĩ. Luôn tái khám đúng hẹn để theo dõi và điều chỉnh khí cụ. Giữ gìn vệ sinh răng miệng kỹ lưỡng (đặc biệt là khi điều trị bằng các khí cụ cố định) để phòng sâu răng, viêm lợi và hôi miệng. Không được ăn thức ăn cứng (đá lạnh, kẹo, hạt đậu, bánh mì cứng) hoặc dính, không được cắn bút. Nếu không, các móc cài của khí cụ chỉnh hình sẽ hỏng hoặc tụt ra, kéodài thời gian điều trị. Không nên chơi những môn thể thao mạnh có thể gây chấn thương vùng mặt hoặc răng.
Những bất thường của hàm răng cần được chỉnh nha
Răng trẻ mọc có vẻ chụm lại sát nhau quá, chen chúc nhau; hàm trên nhô ra nhiều, cằm thụt vào; răng cửa nghiêng ra ngoài đến mức đẩy môi trên ra không thể ngậm kín miệng được; răng cửa trên quay ngược về vòm họng và răng cửa dưới phủ ngoài răng cửa trên (cằm vểnh); khi trẻ ngậm miệng, cắn chặt răng có một khoảng hở giữa răng cửa trên và răng cửa dưới; vòng cung răng bị hẹp.
BS. NGUYỄN TRỌNG LÂN
Chỉnh nha mang lại nhiều lợi ích
Chỉnh nha giúp trẻ nhai thức ăn dễ dàng hơn, điều kiện quan trọng cho tiêu hoá tốt. Để trẻ có khả năng này, hàm răng của chúng phải tương thích với nhau; Giúp trẻ phát âm và diễn đạt tốt, thực tế rất nhiều lỗi phát âm do răng mọc lệch. Kiểu nói dớt, nói xuýt, nói như có tóc dính trên lưỡi… có thể chữa khỏi được vĩnh viễn bằng việc chỉnh răng. Chỉnhnha còn giúp trẻ thở tốt hơn, không phải há miệng thở khi ngủ, giảm mắc các bệnh đường hô hấp, tạo đường nét thẩm mỹ cho khuôn mặt. Răng thẳng hàng và khớp với nhau là yếu tố quan trọng cho vị trí của môi, cằm và đường nét bên dưới khuôn mặt. Khi lớn lên, một hàm răng xấu còn có thể lấy đi nhiều cơ hội cả trong công việc và cuộc sống.
Thời điểm nào nên chỉnh nha?
Nhìn chung, thời điểm tốt nhất để điều trị chỉnh hình răng hàm mặt là khi các răng vĩnh viễn đã mọc (10 - 12 tuổi). Ở lứa tuổi này, xương hàm đang phát triển, rất thuận lợi cho việc nới rộng và sắp xếp lại các răng. Nên đưa trẻ đến bác sĩ nha khoa ngay từ khi trẻ bắt đầu thay răng, tùy thuộc vào tình trạng răng sữa sắp thay, hình dáng cung hàm, các thói quen xấu mà trẻ mắc phải… bác sĩ sẽ đánh giá tình hình bệnh và quyết định thời điểm điều trị. Một số trường hợp cần được giải quyết sớm, không chờ đến khi rụng hết răng sữa vì lúc đó, sự lệch lạc răng sẽ trầm trọng hơn.Việc chỉnh hình răng mặt cũng có thể thực hiện ở người lớn nếu tình trạng răng miệng của bệnh nhân còn tốt. Hiệu quả điều trị sẽ hạn chế nếu bệnh nhân đã ngoài 20 tuổi.
Dụng cụ được các nha sĩ thường dùng để chỉnh răng là vòng kẹp răng (niềng răng) đeo vào hàm răng của trẻ. Thời gian trung bình của điều trị là từ 2 - 2,5 năm. Dụng cụ này có thể phải kéo dài thời gian mang ngay cả khi răng đã được ép mọc đúng vị trí. Nha sĩ sẽ là người quyết định cuối cùng xem khi nào không cần mang nữa. Trong thời gian kẹp răng sẽ làm cho trẻ rất khó chịu, nhất là vài tuần đầu, cha mẹ cần phải thuyết phục cho trẻ hiểu rằng càng kiên trì mang kẹp thì thời gian điều trị sẽ ngắn lại, giúp trẻ quen dần và hài lòng với sự biến đổi từ từ trong miệng. Cần khuyến khích trẻ khi bắt đầu thấy có những kết quả đầu tiên, khiến cho trẻ cảm thấy như sự kỳ diệu về hàm răng đang dần dần mọc đúng vị trí, đẹp đẽ và thẳng thắn như mọi người.
Lưu ý: Trong thời gian mang kẹp răng, phải nghiêm túc thực hiện tháo lắp đúng theo sự hướng dẫn của bác sĩ. Luôn tái khám đúng hẹn để theo dõi và điều chỉnh khí cụ. Giữ gìn vệ sinh răng miệng kỹ lưỡng (đặc biệt là khi điều trị bằng các khí cụ cố định) để phòng sâu răng, viêm lợi và hôi miệng. Không được ăn thức ăn cứng (đá lạnh, kẹo, hạt đậu, bánh mì cứng) hoặc dính, không được cắn bút. Nếu không, các móc cài của khí cụ chỉnh hình sẽ hỏng hoặc tụt ra, kéodài thời gian điều trị. Không nên chơi những môn thể thao mạnh có thể gây chấn thương vùng mặt hoặc răng.
Những bất thường của hàm răng cần được chỉnh nha
Răng trẻ mọc có vẻ chụm lại sát nhau quá, chen chúc nhau; hàm trên nhô ra nhiều, cằm thụt vào; răng cửa nghiêng ra ngoài đến mức đẩy môi trên ra không thể ngậm kín miệng được; răng cửa trên quay ngược về vòm họng và răng cửa dưới phủ ngoài răng cửa trên (cằm vểnh); khi trẻ ngậm miệng, cắn chặt răng có một khoảng hở giữa răng cửa trên và răng cửa dưới; vòng cung răng bị hẹp.
BS. NGUYỄN TRỌNG LÂN
Wednesday, May 25, 2011
Bệnh quai bị (3 bài)
Bài 1. PHÒNG NGỪA VÀ ĐIỀU TRỊ BỆNH QUAI BỊ
Bệnh quai bị đã được Hippocrates mô tả vào thế kỷ thứ V trước công nguyên. Quai bị là một bệnh nhiễm cấp tính do Paramyxovirus gây nên, làm viêm các tuyến nước bọt mang tai. Bệnh có trên toàn thế giới và chỉ xuất hiện ở người.
Bệnh thường phát vào mùa xuân, nhất là trong khoảng thời gian tháng 4 và tháng 5, trong các môi trường tập thể như trường học, nhà trẻ, trại lính.
Lứa tuổi và giới dễ bị bệnh quai bị
Tuổi nào cũng có thể bị bệnh quai bị, khả năng mắc bệnh ở nam cao hơn nữ. Tuy nhiên ít gặp quai bị ở trẻ dưới 2 tuổi mặc dù trẻ chỉ được bảo vệ trong 6 tháng đầu nếu mẹ đã từng mắc bệnh quai bị. Sau 2 tuổi, tần suất bệnh tăng dần, đạt đỉnh cao ở lứa tuổi 10-19. Quai bị gây miễn dịch bền vững dù sưng 1 hay 2 bên tuyến mang tai nên ít khi bị quai bị lần 2.
Sự lây truyền bệnh quai bị
Quai bị lây theo đường hô hấp qua những giọt nước bọt khi bệnh nhân nói, ho, hắt hơi. Thời gian lây là tư? 6 ngày trước cơn toàn phát sưng tuyến mang tai cho đến 2 tuần sau khi có triệu chứng bệnh lý. Vấn đề lây qua đường phân và nước tiểu hiện vẫn chưa được xác nhận dù virus quai bị có khả năng tồn tại trong nước tiểu khoảng 2-3 tuần.
Biểu hiện của bệnh quai bị
Sau khi tiếp xúc với virus quai bị khoảng 14-24 ngày, người bệnh có cảm giác khó chịu, ăn kém, sốt, đôi khi rét, đau họng và đau góc hàm. Sau đó, tuyến mang tai sưng to dần trong khoảng 3 ngày rồi giảm sưng dần trong khoảng 1 tuần. Tuyến mang tai có thể sưng 1 bên hay 2 bên. Nếu sưng cả 2 bên thì 2 tuyến có thể không sưng cùng lúc, tuyến 2 bắt đầu sưng khi tuyến 1 đã giảm sưng. Vùng sưng thường lan đến má, dưới hàm, đẩy tai lên trên và ra ngoài; có khi lan đến ngực gây phù trước xương ức. Bệnh nhân có cảm giác đau ở vùng tuyến bị sưng nhưng da trên vùng sưng không nóng và không sung huyết, ngược với những trường hợp viêm tuyến mang tai do vi trùng. Lỗ ống Stenon ở niêm mạc má 2 bên sưng đỏ, có khi có giả mạc. Bệnh nhân có cảm giác khó nói, khó nuốt, đôi khi phù thanh môn gây khó thở phải mở khí quản. Thời gian biểu hiện bệnh lý khoảng 10 ngày.
Tuy nhiên có khoảng 25% người bị nhiễm virus quai bị mà không có triệu chứng bệnh lý, đây là những đối tượng có khả năng truyền bệnh mà người xung quanh không nhận biết.
Bệnh quai bị ở người lớn thường nặng và có nhiều biến chứng hơn ở trẻ em. Có thể có các biến chứng sau:
1. Viêm tinh hoàn và mào tinh hoàn:
Có tỷ lệ 20-35% ở người sau tuổi dậy thì. Biến chứng này thường xảy ra sau đợt viêm tuyến mang tai khoảng 7-10 ngày nhưng cũng có thể xuất hiện trước hoặc đồng thời. Tinh hoàn sưng to, đau, mào tinh căng phù như một sợi dây thừng. Tình trạng viêm và sốt kéo dài 3-7 ngày, sau đó khoảng 1/2 trường hợp tinh hoàn teo dần và có thể dẫn đến tình trạng giảm số lượng tinh trùng và vô sinh.
2. Nhồi máu phổi:
Là tình trạng có vùng phổi bị thiếu máu nuôi dưỡng, có thể tiến đến hoại tử mô phổi. Nhồi máu phổi là biến chứng có thể xảy ra sau viêm tinh hoàn do quai bị vì hậu quả của huyết khối từ tĩnh mạch tiền liệt tuyến.
3. Viêm buồng trứng:
Có tỷ lệ 7% ở nữ sau tuổi dậy thì, ít khi dẫn đến vô sinh.
4. Viêm tụy:
Có tỷ lệ 3%-7%, là một biểu hiện nặng của quai bị. Bệnh nhân bị đau bụng nhiều, ói, có khi tụt huyết áp.
5. Các tổn thương thần kinh:
- Viêm não: Có tỷ lệ 0,5%. Bệnh nhân có các hiện tượng như: thay đổi tính tình, bứt rứt, khó chịu, nhức đầu, co giật, rối loạn tri giác, rối loạn thị giác, đầu to do não úng thủy.
- Tổn thương thần kinh sọ não: Dẫn đến điếc, mù.
- Viêm tủy sống cắt ngang.
- Viêm đa rễ thần kinh.
6. Bệnh quai bị ở phụ nữ có thai:
- Những phụ nữ bị quai bị trong 3 tháng đầu của thai kỳ có thể gây sẩy thai hoặc sinh con dị dạng.
- Bị quai bị trong 3 tháng cuối của thai kỳ có thể sinh non hoặc thai chết lưu.
7. Một số biến chứng khác:
Viêm cơ tim, viêm tuyến giáp, viêm tuyến lệ, viêm thần kinh thị giác (gây giảm thị lực tạm thời trong 10-20 ngày), viêm thanh khí phế quản, viêm phổi, rối loạn chức năng gan, xuất huyết do giảm tiểu cầu.
Vì viêm tuyến mang tai còn có thể gây ra do các virus khác (Coxackie, Influenza), do vi trùng (Staphylococcus aureus), do tắc ống dẫn tuyến vì sỏi; và viêm tinh hoàn còn có thể do lao, Leptospirose, lậu nên trong một số trường hợp khó chẩn đoán, bệnh nhân cần thực hiện một số xét nghiệm như:
- Phân lập virus từ máu dịch họng, dịch tiết từ ống Stenon, nước tiểu hay dịch não tủy.
- Các phản ứng huyết thanh học: Test ELISA, miễn dịch huỳnh quang, trung hòa bổ thể.
Ðiều trị
- Cho mọi bệnh nhân:
Cách ly bệnh nhân 2 tuần kể từ lúc phát hiện bệnh, vệ sinh răng miệng, ăn những thực phẩm dễ nuốt, giảm đau tại chỗ bằng cách đắp ấm vùng sưng, giảm đau toàn thân và hạ sốt bằng Paracetamol.
- Trường hợp viêm tinh hoàn:
a. Mặc quần lót nâng tinh hoàn để giảm đau.
b. Dùng corticoid đúng liều, quan trọng nhất là dùng liều lớn khi khởi đầu (60mg Prednisolon), sau đó giảm dần trong 7-10 ngày.
c. Phẫu thuật giải áp khi tinh hoàn bị chèn ép nhiều.
Phòng bệnh
Phòng bệnh quai bị chủ động với vaccin, thường kết hợp với phòng sởi và rubella (Trimovax, MMR). Không nên tiêm vaccin cho trẻ dưới 1 tuổi (tuy nhiên nếu trẻ sống trong môi trường tập thể, có thể tiêm ngừa từ 9 tháng tuổi), phụ nữ có thai, người bị dị ứng với thuốc chủng, người đang dùng thuốc gây giảm miễn dịch (corticoid, thuốc điều trị ung thư), người đang điều trị với tia phóng xạ.
Số lần tiêm:
- Nếu bắt đầu tiêm từ 12 tháng tuổi: tiêm 2 lần, lần 1 lúc 12 tháng tuổi, lần 2 từ 4-12 tuổi.
- Nếu bắt đầu tiêm từ 9 tháng tuổi: tiêm 3 lần, lần 1 lúc 9 tháng tuổi, lần 2 sau lần 1 sáu tháng, lần 3 từ 4-12 tuổi.
Phòng bệnh quai bị thụ động với globulin miễn dịch, dùng cho người tiếp xúc với virus quai bị mà chưa được tiêm vaccin trước đó.
TS. BS. Nguyễn Thị Ngọc Nga
( SK&ÐS)
Bài 2. Phân biệt bệnh quai bị và viêm tuyến nước bọt
Cùng với sự gia tăng các bệnh đường hô hấp, tiêu chảy ở trẻ em trong mùa nắng nóng, bệnh quai bị cũng đã bắt đầu xuất hiện. Mặc dù là bệnh không nguy hiểm đến tính mạng nhưng dễ để lại di chứng nặng nề như vô sinh. Ngoài ra, bệnh cũng dễ nhầm với một số bệnh lý khác tại tuyến nước bọt. Bạn đọc cần có kiến thức về hai loại bệnh này.
Quai bị và viêm tuyến nước bọt là 2 bệnh có triệu chứng biểu hiện ở tuyến nước bọt, hay gặp nhất là ở tuyến nước bọt mang tai. Do 2 bệnh có triệu chứng ở tuyến nước bọt mang tai gần giống nhau, nhưng hậu quả của 2 bệnh gây ra rất khác nhau: bệnh quai bị có thể gây vô sinh, viêm tuyến nước bọt đơn thuần có thể gây biến dạng khuôn mặt. Vì vậy cần phân biệt rõ bệnh quai bị và viêm tuyến nước bọt đơn thuần để có hướng xử trí đúng.
Bệnh quai bị
Bệnh quai bị do virut quai bị thuộc nhóm Paramyxo virut gây nên. Bệnh lây truyền theo đường hô hấp, qua các bụi nước của hơi thở, truyền trực tiếp từ người bệnh sang người lành. Bệnh phổ biến ở nhiều nơi, có khi bùng lên thành dịch ở những nơi tập trung đông người (nhà trẻ, trường học).
Biểu hiện khi bị quai bị: Bệnh nhân sốt 38 -39oC, đau đầu, chán ăn, khó nuốt, khó nói, đau nhức các khớp xương, thăm khám thấy miệng ống Stenon phù nề, tấy đỏ nhưng không bao giờ có mủ chảy ra. Vùng tuyến nước bọt mang tai sưng to, lan ra vùng trước tai, mỏm chũm, lan xuống dưới hàm. Da vùng sưng có màu sắc bình thường, không nóng đỏ và có tính đàn hồi. Thường sưng cả 2 bên tuyến nước bọt mang tai, có khi chỉ sưng 1 bên, sưng 2 bên so với sưng 1 bên là tỷ lệ 6/1. Song song với các tổn thương ở tuyến nước bọt, virut quai bị còn làm tổn thương ở ngoài tuyến nước bọt gây viêm tinh hoàn, viêm màng não, viêm não, viêm tụy cấp, viêm thanh khí phế quản, viêm phổi kẽ, viêm đa khớp hoặc biểu hiện ở các cơ quan khác như tuyến lệ, tuyến ức, tuyến giáp, tuyến vú, buồng trứng. Các tổn thương này thường có các triệu chứng không điển hình, diễn biến lành tính.
Bệnh quai bị có thể để lại biến chứng gì?
- Viêm tinh hoàn: Thường gặp ở tuổi dậy thì, hiếm gặp ở trẻ em dưới 2 tuổi và người lớn trên 40 tuổi, xuất hiện sau khi sưng tuyến mang tai 1 - 2 tuần. Bệnh nhân đau tinh hoàn sắp sưng, sau đó tinh hoàn sưng to gấp 3 - 4 lần bình thường. Thường thì sưng 1 bên, cũng có thể sưng 2 bên, sau 2 tuần mới hết sưng. Sau 2 tháng mới đánh giá được tinh hoàn có teo hay không. Tỷ lệ teo tinh hoàn do quai bị là 30 - 40%. Nếu bị teo tinh hoàn 2 bên thì khả năng vô sinh rất cao.
- Viêm buồng trứng: Chiếm 7% các trường hợp mắc bệnh ở tuổi sau dậy thì (hiếm khi vô sinh). Nếu nhiễm bệnh ở phụ nữ có thai 3 tháng đầu có khả năng gây dị dạng thai, sảy thai. Nhiễm bệnh vào 3 tháng cuối có thể tăng nguy cơ thai chết lưu hoặc đẻ non.
Điều trị quai bị như thế nào?
- Điều trị: Bệnh quai bị đến nay chưa có thuốc điều trị đặc hiệu, dùng kháng sinh không có tác dụng mà chỉ điều trị theo triệu chứng. Chườm nóng, dùng thuốc an thần, giảm đau, vitamin, có thể dùng chống viêm corticoid, súc miệng nước muối thường xuyên sau khi ăn. Những ngày đầu nên ăn nhẹ, ăn lỏng.
Có thể kết hợp dùng các bài thuốc Đông y: Dùng hạt gấc mài ngâm rượu rồi xoa vào chỗ sưng, hay dùng hạt đậu xanh tán nhỏ trộn với dấm rồi đắp lên chỗ sưng.
Cách ly bệnh nhân tối thiểu 2 tuần. Bệnh nhân nên nghỉ ngơi, nằm yên, hạn chế đi lại, nhất là đối với thanh niên hay đang trong thời gian sốt và sưng tuyến nước bọt (4 - 6 ngày đầu).
- Phòng bệnh tốt nhất là tiêm vaccin: Tạo miễn dịch chủ động: tiêm vaccin virut sống giảm độc lực an toàn, tạo kháng thể, cho miễn dịch ít nhất 17 năm. Đối tượng tiêm là trẻ em trên 1 tuổi, đặc biệt ở tuổi dậy thì, trưởng thành, thanh thiếu niên sống trong tập thể. Tái tiêm chủng ở người đã tiêm vaccin quai bị dùng virut chết.
Tạo miễn dịch thụ động: Dự phòng đặc hiệu bằng gamaglobulin miễn dịch chống quai bị, dùng sớm cho phụ nữ có thai và cho người cần phải tiếp xúc với bệnh nhân quai bị.
Viêm tuyến nước bọt đơn thuần
Bệnh viêm tuyến nước bọt mang tai đơn thuần do các loại vi khuẩn Staphylococcus aureus, do virus Iryfluenza, Parainfluenza, coxsackie... gây nên hoặc do sỏi làm tắc ống dẫn tuyến nước bọt cũng gây viêm. Bệnh thường chỉ tổn thương tại tuyến nước bọt, diễn biến lành tính, tự khỏi hoặc cũng có trường hợp chuyển sang viêm mạn tính phì đại tuyến.
Biểu hiện: Bệnh nhân thấy vùng tuyến nước bọt mang tai sưng to, sưng lan rộng ra xung quanh tuyến, da vùng tuyến sưng tấy đỏ đau, nói và nuốt đau, có hạch viêm phản ứng ở góc hàm hoặc sau tai cùng bên. Sốt 38 - 39oC, ấn vùng tuyến mang tai thấy có mủ chảy ra ở miệng ống Stenon.
Đối với bệnh nhân bị bệnh viêm tuyến nước bọt đơn thuần thường không thấy có tổn thương ngoài tuyến nước bọt. Bệnh có tính chất đơn lẻ, cơ hội, thường xuất hiện khi có viêm nhiễm khác ở vùng miệng và mũi họng, không lây thành dịch.
- Điều trị viêm tuyến nước bọt: Dùng kháng sinh, chống viêm, giảm phù nề, giảm đau. Khi tiêm trực tiếp kháng sinh và corticoid vào tuyến nước bọt, qua đường ống Stenon thấy kết quả tốt, vùng tuyến giảm sưng nhanh, ít tái phát, nếu viêm tuyến lần đầu theo dõi thấy không tái phát. Nếu để muộn, điều trị không kịp thời sau 7 - 10 ngày, bệnh giảm các triệu chứng và chuyển sang viêm mạn tính tái phát sau 1 vài tháng 1 lần viêm lại. Ở những bệnh nhân viêm tuyến tái phát nhiều lần làm vùng tuyến mang tai 2 bên phì đại (to hơn bình thường) không nhỏ lại được, vì thế làm biến dạng khuôn mặt bệnh nhân.
BSCKI. Hồ Thị Thương Hương (Khoa RHM - Bệnh viện Hòe Nhai)
Bài 3. Bệnh quai bị có nguy hiểm?
Người ta nói nhiều đến bệnh vô sinh do quai bị gây ra. Nhưng bên cạnh đó, còn có một số biến chứng khác nguy hiểm không kém.
1. Nguyên nhân nào dẫn tới bệnh quai bị?
Quai bị là một loại bệnh lý của các tuyến nước bọt, gây ra bởi một loại virus có tên là Paramyxovirus có ái tính với các tổ chức tuyến và thần kinh. Là một loại bệnh nhiễm virus thường thấy, tác động chủ yếu đến trẻ em từ 5 đến 15 tuổi.
Quai bị là loại bệnh truyền nhiễm lưu hành quanh năm với các đợt phát thành dịch thường gặp vào mùa Đông – Xuân.
2. Bệnh quai bị có những nguồn bệnh và đường lây nào?
Là một bệnh truyền nhiễm cấp tính gây bệnh cho người. Bệnh rất dễ lây và cho miễn dịch bền vững sau khi khỏi bệnh (không mắc lại bệnh lần 2). Bệnh lây trực tiếp qua đường hô hấp bởi các giọt nước bọt nhỏ li ti bắn ra khi bệnh nhân nói, ho, hắt hơi…
Bệnh có khả năng lây từ 7 ngày trước khi xuất hiện các triệu chứng đầu tiên và 7 ngày sau khi hết triệu chứng. Người bệnh chính là nguồn bệnh và các vật dụng có nhiễm nước bọt của người bệnh. Điều khó khăn trong việc cách ly nguồn bệnh là thời gian 7 ngày trước khi có biểu hiện lâm sàng.
3. Các đối tượng nào dễ mắc quai bị?
Bệnh quai bị có thể gây nhiễm cho mọi lứa tuổi, nhưng do là một loại bệnh dễ lây nên đa số các trẻ nhỏ bị mắc bệnh này. Lứa tuổi thường gặp là 5 tuổi đến 15 tuổi (khi chưa được tiêm vắc xin phòng bệnh). Qua điều tra nghiên cứu thấy trên 85% người trưởng thành đang khỏe mạnh đã có tiền sử mắc bệnh quai bị. Những nguy cơ mắc bệnh quai bị cá biệt cũng có thể gặp ở trẻ nhỏ hơn, thậm chí mới có 5- 6 tháng tuổi do kháng thể chống quai bị được hưởng thụ từ máu và sữa mẹ cũng đã bị suy giảm và hết. Nên trong thời gian có dịch và nguy cơ nhiễm bệnh lớn cũng phải chú ý bảo vệ các đối tượng này.
4. Triệu chứng lâm sàng của bệnh ra sao?
Sau khi bị nhiễm virus quai bị, trẻ sẽ trải qua một thời gian ủ bệnh kéo dài 18 đến 21 ngày, hoàn toàn yên lặng không bộc lộ dấu hiệu và triệu chứng gì.
Tiếp đó, bước sang giai đoạn khởi phát bệnh với các triệu chứng sốt, nhức đầu, nôn. Có thể có trước khi sưng tuyến nước bọt.
Trong các tuyến nước bọt (tuyến mang tai, tuyến dưới hàm, tuyến dưới lưỡi…) thì tuyến mang tai có tỷ lệ bị tác động nhiều hơn hẳn (tuyến này nằm ở vị trí góc hàm trước và dưới mỗi bên tai). Nói chung triệu chứng dễ thấy nhất trong bệnh quai bị là tuyến mang tai sưng to. Thường tuyến ở một bên sưng lên nhiều ngày trước khi tuyến bên kia bị sưng, nhưng đôi khi bệnh chỉ ảnh hưởng đến 1 tuyến. Trường hợp sưng cả 2 bên tuyến mang tai sẽ tạo bộ mặt của bệnh nhân có hình dáng như quả lê. Bệnh nhân nhai, nuốt khó khăn.
Các triệu chứng khi sang đến giai đoạn toàn phát sẽ hết đi trong vòng vài ngày. Nhưng bệnh nhân vẫn còn khả năng lây nhiễm cho người khác cho tới khi hết hẳn sưng, tuy nhiên bệnh khi đó có thể lan sang tuyến nước bọt khác hoặc gây biến chứng đối với một số phủ tạng khác.
Cũng cần biết là 1/3 số bệnh nhân quai bị không biểu hiện triệu chứng gì. Đôi khi, bệnh quai bị qua đi mà không hay biết do tuyến không sưng trong vụ dịch quai bị. Cũng có gặp những trường hợp bệnh nhân có triệu chứng viêm tinh hoàn (một biến chứng thường gặp ở một số bệnh nhân bị quai bị khi đã ở độ tuổi trẻ trưởng thành) nhưng tuyến nước bọt không hề sưng to.
5. Bệnh quai bị ở người lớn và trẻ em có gì khác nhau?
Nói chung, bệnh quai bị có diễn biến lành tính các triệu chứng thoái lui trong vòng khoảng 10 ngày và không để lại di chứng gì. Nhưng đối với bệnh nhân lớn tuổi thường cường độ các triệu chứng toàn thân (sốt, đau đầu…) tăng hơn, các biến chứng hay gặp hơn và thường có thể để lại hậu quả xấu.
6. Bệnh quai bị có thể gây ra các loại biến chứng nào?
Trong một số trường hợp, bệnh quai bị có thể tác động đến một số tuyến khác ngoài tuyến nước bọt:
- Viêm tinh hoàn: Sưng, đau tinh hoàn. Có thể xảy ra trước, trong hoặc sau khi sưng tuyến nước bọt và đôi khi ngay cả khi không có sưng đau tuyến. Viêm tinh hoàn chiếm tỉ lệ 2% số trường hợp quai bị. Thường khi bị viêm một bên, nhưng cũng có thể viêm sưng đau cả 2 bên (25%).
- Viêm tụy tạng (0,4%): đau nặng vùng thượng vị, trong nước tiểu có đường.
- Viêm buồng trứng, viêm tuyến giáp: hiếm gặp
Bệnh quai bị có thể gây biến chứng màng não – não:
- Viêm màng não tăng lâm ba lành tính. 16% trường hợp bị quai bị mắc phải.
- Viêm não: chiếm tỉ lệ 0,5%0. Biến chứng này có thể xảy ra ở thời điểm tuyến nước bọt đang sưng viêm hoặc sau đó 2 – 3 tuần lễ.
- Biến chứng vào các thần kinh sọ não (0,1%) gây điếc một bên hoặc cả 2 bên tai. Các biển chứng gây viêm thần kinh, viêm tủy, viêm nhiều rễ thần kinh có thể xảy ra nhưng rất hiếm gặp.
7. Dựa vào dấu hiệu và triệu chứng gì để xác định bệnh quai bị?
Chẩn đoán bệnh quai bị chủ yếu dựa vào triệu chứng lâm sàng và yếu tố dịch tễ.
Trong một số trường hợp việc phải chẩn đoán phân biệt cũng phải đặt ra giữa viêm tuyến nước bọt do quai bị với các viêm tuyến nước bọt do các nguyên nhân nhiễm khuẩn, do tác động của một số thuốc điều trị, do nhiễm độc hóa chất hoặc chẩn đoán phân biệt với trường hợp tắc tuyến nước bọt do mổ.
8. Điều trị quai bị
Biện pháp điều trị duy nhất là điều trị triệu chứng bằng thuốc hạ nhiệt, thuốc giảm đau khi đau nhiều và thuốc chống viêm. Ăn lỏng khi bệnh nhân nhai và nuốt đau. Giữ vệ sinh răng miệng.
Khi có biến chứng viêm tinh hoàn bệnh nhân cần được nằm nghỉ, sử dụng dụng cụ đeo nâng bìu hoặc mặc quần "nhỏ" chật. Trường hợp đau nhiều có thể chườm túi đá, dùng các thuốc chống viêm.
Khi có biến chứng viêm tụy tạng có thể dùng thuốc giảm đau, thuốc chống nôn…
9. Làm sao để dự phòng ngăn ngừa bệnh lây lan?
Bệnh nhân cần được cách ly tối thiểu 15 ngày kể từ ngày phát bệnh.
Gây miễn dịch chủ động bằng vắc xin. Các vắc xin quai bị đang được sử dụng là vắc xin sống giảm độc lực chỉ cần tiêm một mũi duy nhất vào dưới da. Virus đã được xử lý giảm độc lực khi tiêm vào cơ thể, không còn khả năng gây bệnh và có tác dụng kích thích cơ thể sản xuất ra kháng thể chống lại virus gây bệnh quai bị.
Để tránh cho trẻ bị tiêm nhiều mũi thuốc vắc xin hiện đã có loại vắc xin kết hợp chống 3 bệnh: Sởi, quai bị, rubella.
Loại vắc xin kết hợp này được cơ thể dung nạp tốt, có tác dụng gây miễn dịch chắc chắn và bền vững.
BS Lê Quang Hồng
Lở ở miệng - bệnh herpes (4 bài)
Bài 1. Bệnh Herpes
Ở Mỹ, hơn 30 triệu người mang bệnh herpes đường sinh dục (genital herpes). Bệnh gây do một loại siêu vi trùng (virus), lây truyền qua giao hợp. Siêu vi trùng herpes vào cơ thể ta qua các màng nhày (mucosa) của miệng hay cơ quan sinh dục, hoặc qua các vết thương trên dạ
Thực ra, có 2 giống siêu vi trùng herpes khác nhaụ Chúng tuy khác giống, nhưng chung một dòng: giống hay tấn công miệng và môi được đặt tên giống số 1, giống hay tấn công cơ quan sinh dục, giống số 2. Địa phương nào, anh hùng nấy: 90% các trường hợp lở môi, miệng, có khi quanh mặt, gây bởi siêu vi trùng herpes, là do giống 1; trong khi 80% các vết lở đường sinh dục, gây bởi siêu vi trùng herpes, là do giống 2.
Như vậy, ta có đến hai loại bệnh herpes: herpes môi miệng (orolabial herpes) và herpes đường sinh dục (genital herpes).
Herpes môi miệng
Trận công kích đầu tiên của bệnh herpes môi miệng có thể rất nặng, hay thấy ở trẻ con và người trẻ tuổị Bệnh gây nóng sốt, bứt rứt, đau nhức các bắp thịt, đau cổ họng, nổi hạch ở cổ. Cổ họng, vòm miệng, nướu, lưỡi, môi của người bệnh đầy những vết lở đau khiến khó ăn uống. Triệu chứng kéo dài từ 3 đến 14 ngàỵ Đây là bệnh gây do siêu vi trùng (virus), nên dùng trụ sinh chẳng ăn thua gì, không làm căn bệnh thuyên giảm mau hơn. Sự chữa trị gồm các phương cách giúp người bệnh bớt đau và dễ chịu, trong lúc chờ căn bệnh qua đị
Sau trận công kích đầu tiên gây khổ sở 3 đến 14 ngày, siêu vi trùng herpes giống 1 rút êm vào một hạch thần kinh có tên "trigeminal ganglion" trên óc, nằm dưỡng quân. Sau đó, người bệnh thỉnh thoảng lại có những vết lở mọc quanh miê.ng. Ấy là những lúc siêu vi trùng giống 1 từ hạch thần kinh ra dạo chơị Trong vòng 1-2 tuần, các vết lở đóng vẩy, lành dần, không để lại thẹọ Những vết lở này hơi đau, hoặc ngứạ Uống trụ sinh hoặc thoa kem trụ sinh không ăn thuạ Chỉ cần thoa chút vaseline, nếu vết lở làm ta khó chịụ
Herpes đường sinh dục
Triệu chứng của bệnh herpes đường sinh dục là những vết thương trông như những hạt nước nhỏ, xuất hiện trên dương vật người đàn ông, trên và chung quanh bộ phận sinh dục người phụ nữ bị bê.nh. Có khi chúng xuất hiện trong âm đạo, trên cổ tử cung hoặc quanh hậu môn. Những hạt nước nhỏ này mau chóng bể vỡ, tạo những vết loét ngứa hoặc nóng. Nếu có nhiều vết herpes quây quần gần nhau, người bệnh có thể tiểu tiện hoặc đi lại khó khăn vì đaụ Trong vòng một tuần hay hơn, các bong bóng nước dập vỡ, sau đó đóng vẩy và lành dần, không để lại thẹọ
Giống bệnh herpes môi miệng, trận công kích đầu tiên của bệnh herpes đường sinh dục cũng thường nặng nhất. Nhiều người bệnh thấy mệt mỏi, nóng sốt, đau nhức bắp thịt, các hạch ở háng sưng to và đaụ Có vị đau dữ lắm, đi cầu, đi tiểu không được.
Triệu chứng của bệnh thường xuất hiện trong vòng 2-7 ngày sau khi giao hợp (sexual contact) với người mang bệnh herpes. Cũng có khi triệu chứng phát ra chậm, vài tháng sau đó, khiến người bệnh, nếu có nhiều bạn cùng ngủ chung giường (sexual partners), khó biết ai là người đã tặng món quà này cho mình.
Có cách chữa trị hữu hiệu làm giảm những triệu chứng gây do bệnh herpes đường sinh dục của bạn, trong lần công kích thứ nhất của nó. Điều quan trọng là bạn đi viếng bác sĩ sớm, ngay khi bạn nghĩ: "Chết cha, chắc bị herpes rồi". Đừng dùng mấy viên "Ampi" vớ vẩn ở nhà. Nếu đúng bạn bị herpes, thuốc acyclovir (Zovirax) sẽ giúp triệu chứng của bạn mau chóng thuyên giảm. (Hai thuốc mới Famvir và Valtrex được xem cũng hữu hiệu không kém Zovirax).
Phúc bất trùng lai, họa vô đơn chí, lắm khi nhiều họa cùng xảy ra một lượt. Nếu bạn nhiễm herpes, cùng lúc bạn có thể nhiễm những bệnh truyền do tình dục (sexually transmitted diseases) khác: giang mai, lậu, chlamydia, AIDS... Sao không? Trong lãnh vực y khoa, bác sĩ xin phép nghĩ xa hơn bạn một chút, và trong lúc thăm khám, sẽ tìm xem bạn có nhiễm thêm những bệnh này không. Bác sĩ sẽ đề nghị bạn thử máu tìm bệnh giang mai (syphilis) và AIDS, hai bệnh nguy hiểm thường không gây triệu chứng gì đặc biệt có thể khám thấy, trong gia đoạn sớm của chúng.
Khổ thay, bệnh quỉ chưa có thuốc tiên. Trong trận tổng tấn công đầu của herpes, acyclovir chỉ có thể giúp các triệu chứng của bạn mau chóng thuyên giảm, song không tiêu diệt được quân thù. Quân herpes, sau đó, sẽ di tản chiến thuật vào những hậu cứ trong các hạch thần kinh của cột xương sống. Nằm chờ thời, dưỡng quân, nhiều tháng, có khi nhiều năm.
Có người may mắn, không bao giờ bị herpes tấn công lần nữạ Nhưng rất nhiều người đã có duyên gặp gỡ herpes, cái duyên ấy theo đuổi, có khi mỗi tháng. Những trận tấn công sau của herpes thường nhe.. Tổng hành dinh herpes, đặt tại những hạch thần kinh của cột xương sống, lâu lâu lại gửi ít quân du kích ra quấy phá, gây vài vết loét nho nhỏ, với ít triệu chứng. Nhiều người bệnh có thể tiên đoán trước, lúc du kích herpes sắp quấy phá, do thấy tê, nóng ở chỗ những vết loét sắp xuất hiện. Thường ở chỗ có những vết loét đã xuất hiện trong lần tấn công đầụ
Nếu những trận tấn công sau của herpes nhẹ, không gây nhiều triệu chứng khó chịu, bạn không cần phải dùng acyclovir, vì thuốc không giúp nhiều, lại đắt tiền. Triệu chứng khó chịu hơn, bạn có thể dùng thuốc trong 5 ngàỵ Nếu bạn trong năm bị herpes làm phiền trên 6 lần, rất khó chịu, bác sĩ có thể sẽ đề nghị bạn dùng thuốc mỗi ngày (2 đến 3 lần) để ngừa những trận tấn công kế tiếp của herpes. Cho đến nay, người ta thấy việc dùng acyclovir, lâu hơn 6 năm, để ngừa các cơn herpes tái phát, vẫn không gây hại gì cho cơ thể. Tuy vậy, mỗi năm, ta thử ngưng thuốc, xem không có thuốc, herpes còn trở lại làm phiền bạn không.
Những trận tấn công của herpes, thường xảy ra vào những lúc bạn căng thẳng tinh thần (stress) hoặc đang bê.nh. Vậy, giúp sức khỏe luôn trong tình trạng tốt bằng cách ăn uống đều hòa, vận động thường xuyên, ngủ nghỉ đầy đủ, may ra sẽ tránh được những cơn tấn công liên tiếp của herpes. Và cũng nên cố tránh những căng thẳng. Có người ngờ rằng quần áo bó sát (như quần jeans) hoặc đồ lót chật, cũng làm herpes tái phát nhiều hơn.
Trong một trận công kích của herpes, có vài việc bạn có thể tự làm ở nhà để đỡ khó chịu:
- Dùng thuốc mua không cần toa (Tylenol, Aspirin...) để chữa đau và nóng sốt nếu có.
- Ngâm chỗ có vết herpes với nước ấm, khoảng 5 phút, ngày 2-3 lần.
- Nếu đau nhiều, bạn dùng kem giúp giảm đau nhức (anesthetic cream), thoa lên chỗ đaụ Bạn có thể nhờ bác sĩ biên toa cho bạn mua loại kem nàỵ Bạn cũng có thể dùng bọc nước đá (ice bag) áp vào chỗ đaụ
- Tránh mặc quần hay quần lót chật.
- Mặc đồ lót bằng chất bông (cotton) thay vì chất hóa học (synthetic materials), vì chất bông mát, không làm bí hơi, không khí ra vào chỗ lở đau dễ hơn.
- Giữ vùng bị lở sạch và khộ Tắm xong, tránh chà xát vùng lở với khăn tắm, ngược lại, chỉ nên dùng khăn tắm thấm cho khô (pat dry). Hoặc dùng máy thổi làm khô tóc (hand held hair dryer set on cool) thổi khô vùng bị lở. Nhớ thổi mát thôi (set on cool), đừng để máy nóng, sơ.... phỏng. Nếu dùng khăn tắm thấm khô vùng lở, dùng xong, nên thay khăn khác lau mình, hầu tránh đem siêu vi trùng từ chỗ lở đến các nơi khác. Sau đó, thay giặt quần áo và khăn tắm bằng thật nhiều nước ấm.
Biến chứng của herpes
Herpes, tuy phiền toái, thường là bệnh không nguy hiểm cho người lớn. Song, phụ nữ bị herpes, trong lúc sanh nở, có thể lây truyền bệnh cho cháu bé sơ sinh, khi cháu bé đi qua đường sinh dục người phụ nữ ra góp mặt với đờị Bệnh herpes ở trẻ sơ sinh có thể rất nặng, gây tử vong (20% các trẻ bị herpes nặng, toàn diện, sẽ chết). Những trẻ may mắn sống sót, sau hay có các biến chứng thần kinh nặng, hoặc hay bị herpes tái phát.
Nếu bạn từng bị herpes đường sinh dục và nay mang thai, bạn nên cho bác sĩ sản khoa của bạn biết. Lúc chuyển bụng, rủi bạn đang có những vết loét gây do herpes, để tránh cho em bé khỏi lây bệnh khi đi ngang qua đường sinh dục phía dưới của bạn, bác sĩ sẽ mổ phía trên để lấy em bé rạ Chồng hay bị herpes đường sinh dục tái phát, vợ mang thai, hai vợ chồng nên tránh giao hợp vào những tháng cuối, khi người vợ sắp sanh.
Các nhà nghiên cứu còn nghĩ rằng trong nhiều trường hợp, siêu vi trùng herpes góp phần gây ung thư cổ tử cung. Phụ nữ mang bệnh herpes nên đi khám bác sĩ hàng năm nhờ thăm khám và làm vết phết cổ tử cung tìm ung thư (Pap smear).
Tuy hiếm khi xảy ra, nhưng siêu vi trùng herpes có thể tấn công và gây bệnh nguy hiểm ở mắt. Nên tránh sờ chỗ loét do herpes, rồi bôi lên mắt. Luôn nhớ rửa tay bằng xà-phòng và thật nhiều nước, nếu có việc phải sờ đến chỗ bị herpes.
Phòng ngừa herpes
Bị herpes phiền phức lắm. Các cụ ta có nhiều lời khuyên hay đáo để, chẳng hạn, "chọn mặt gửi vàng". Trao đổi tâm tình trong cuộc sống, bạn hãy chọn một người bạn tin cậy, một người đàng hoàng, không phải dân chơi bờị Nếu may cái tâm tình của "hai trẻ" càng lúc càng sâu đậm, đến một lúc... đi đến hôn nhân, một vợ một chồng. Chưa ai bị herpes. Tuyệt.
Khổ, ở cái đất Mỹ, người ta đã quen với lối thử hàng trước rồi mới mua hàng saụ Cẩn thận, dù đã đến giai đoạn tin nhau trao hết cho nhau, khi chưa lấy nhau, bạn cũng chẳng nên tin... hết, chẳng nên tin ai bằng tin chính mình. Vì có thể người mà bạn đang đặt hết lòng tin tưởng, biết đâu trước đây đã thử hàng với nhiều người khác, trong người đang có siêu vi trùng herpes, siêu vi HIV (gây bệnh AIDS) và... nhiều thứ ghê gớm khác. Vậy, nếu giao hợp là việc không tránh được:
- Luôn luôn dùng bao cao su (condom) khi giao hợp.
- Chớ nên giao hợp với người đang có những vết loét bất thường trên bộ phận sinh dục. Nhưng nhớ rằng người bị herpes, vẫn có thể truyền bệnh cho người khác khi không có vết thương nhìn thấy, vì nhiều người đã có sẵn siêu vi trùng vài ngày trước tại chỗ sẽ có vết loét xuất hiện. Hoặc siêu vi trùng vẫn còn hiện diện ở đấy vài ngày sau khi vết thương gây do herpes đã lành.
- Ngược lại cũng vậy, mang bệnh herpes đường sinh dục, bạn không nên giao hợp với ai khi đang có vết thương do herpes, dù chỉ... sơ sơ bên ngoài (if you are infected with herpes, avoid all sexual and genital contact during an attack, including rubbing against your partner). Làm vậy tội chết. Những lúc ấy, cũng đừng nên cho ai khác mặc chung quần áo hoặc dùng chung khăn tắm.
- Nếu bạn đang có vết lở ở môi miệng, đừng hôn ai để lây bệnh cho ngườị Cũng đừng cho người khác dùng chung những vật dụng dùng ăn uống như muỗng, nĩa, đĩa, ly...
Sau nữa, chưa kết hôn, trong mỗi giai đoạn của cuộc đời độc thân, bạn chỉ nên ngủ cùng giường với một người bạn tình. Nay người này, mai người khác, rất dễ bị lây bê.nh.
Bài viết này để tặng những bạn còn độc thân vui tính. Nhưng cũng có ý tặng các vị không còn độc thân, song có máu phiêu lưu, thỉnh thoảng làm những chuyến viễn du ngoài gia đình (xin phép vợ về Việt Nam thăm mẹ già, tiện ghé thăm những người em chưa hề biết mặt, vì đói khổ, bán thân nuôi miệng). Mong những vị này sợ AIDS, sợ herpes, sợ nhiều thứ khác nữa, sẽ chùn chân, dừng bước phiêu lưụ "Ta về ta tắm ao ta, Dù trong dù đục, ao nhà vẫn hơn". Ao nhà bao giờ cũng sạch hơn ao người đã lắm kẻ tắm lội
BS. Nguyễn Văn Đức
Nguồn: http://kekhopk.com/forums/index.php?showtopic=1707&mode=threaded
Bài 2. Herpes sinh dục là một căn bệnh thường gặp nhưng rất khó điều trị
“Herpes sinh dục” là một bệnh loét sinh dục thường gặp nhất ở những nước phát triển
Virus Herpes Simplex gây loét ở bộ phận sinh dục. Căn bệnh này có thể tự bình phục mà không cần phải điều trị nhưng mầm bệnh vẫn còn lưu lại trong cơ thể và sẽ tái phát bất kỳ lúc nào, gây stress về thể chất cũng như tinh thần.
Khi căn bệnh tái phát, triệu chứng sẽ ít hơn. Ở một số ít trường hợp, bệnh gây ra viêm não hoặc viêm màng não. Nếu bệnh lây sang trẻ sơ sinh, bệnh có thể gây tử vong. Loét sinh dục gây nhiễm HIV và Herpes sinh dục ở những nước phát triển.
Herpes sinh dục lây lan khắp nơi trên thế giới, không phân biệt nước giàu nghèo
Herpes sinh dục có mặt khắp nơi trên thế giới. Kết quả kháng thể dương và kết quả lâm sàng thường không đồng nhất và triệu chứng lâm sàng cũng khác nhau tùy thuộc vào từng bệnh nhân. Thêm vào đó, hầu hết nhiều nước không nói rõ số người nhiễm bệnh nên tỉ lệ người mắc bệnh trên toàn thế giới vẫn chưa biết một cách chính xác.
Kkông như những căn bệnh khác, bệnh hoa liễu loại này thường phát sinh ở những nước phát triển hoặc những giai cấp cao trong xã hội. Ở những nước phát triển, có khoảng 6-8% bệnh nhân và số người mắc bệnh Herpes chiếm từ 3-5%.
Cũng trong cùng một nước, những người thuộc tầng lớp thấp có khuynh hướng mắc bệnh lậu nhiều hơn, có khoảng 1/8-1/20 bệnh nhân mắc bệnh lậu bị nhiễm Herpes sinh dục. Những nước khác lại có ít người mắc bệnh lậu nhưng có nhiều người mắc bệnh herpes.
Virus Herpes là gì?
Virus Herpes Simplex
1. HSV-1: Đây là một loại Herpes đơn giản, thường gây ra lở ở môi hoặc bên trong miệng. 90% người lớn có kháng thể chống lại HSV-1. Bệnh này có thể bị lây nhiễm khi giao hợp bằng miệng.
2. HSV-2: Virus này lây qua đường tình dục. Căn bệnh gây nhiễm cơ quan sinh dục nam hoặc nữ.
Đối với bệnh nhân đã nhiễm bệnh, căn bệnh này sẽ tái phát liên tục vì vậy dịch tễ học có thể được thừa nhận qua kháng thể dương. Trước đây, HSV-1 và HSV-2 không được phân loại. Ngày nay, bệnh được phân loại rõ ràng và hình thức kiểm tra cũng có sẵn.
Nói chung, kháng thể HSV-2 không phổ biến ở vị thành niên. Tỉ lệ bệnh nhân tăng dần từ độ tuổi thanh thiếu niên cho đến 30 tuổi, và kéo dài cho đến 45 tuổi. Người thuộc tầng lớp thấp trong xã hội hoặc thuộc nhóm thiểu số có tỉ lệ nhiễm bệnh cao hơn.
Khoảng 80-90% gái mại dâm và 50% nam giới bị nhiễm bệnh hoa liễu có kháng thể dương. Tỉ lệ phụ nữ nhiễm bệnh nhiều hơn so với nam giới, chiếm từ 5-10%. Ở những nước đang phát triển, số người mắc bệnh chiếm tỉ lệ cao và thường ít biểu hiện triệu chứng lâm sàng. Nhiễm HSV-1 thường thấy phổ biến ở những nước đang phát triển bởi vì loại bệnh này cản trở sự xuất hiện của HSV-2.
Mặc dù triệu chứng lâm sàng ít hơn, nhưng tỉ lệ tái phát của Virus Herpes chiếm 80%
Triệu chứng nhiễm Virus Herpes
- Bệnh xuất hiện từ 3-6 ngày sau khi giao hợp
- Cảm thấy ngứa và đau rát ở bộ phận sinh dục
- Nổi mụn nước nhỏ hoặc mụn mủ ở bộ phận sinh dục
- Mụn nước và mụn mủ bể và gây loét
- Cảm thấy đau đớn và nước tiểu đọng lại ở vùng loét gây nhiễm trùng
- Nếu bệnh lan đến bụng, bệnh sẽ gây viêm tuyến bạch huyết ở đùi
- Phụ nữ có thai bị nhiễm Virus Herpes có thể bị vỡ màng, hoặc có thể truyền bệnh cho con hoặc có thể tử vong khi sinh.
(Phụ nữ có thai bị nhiễm Virus Herpes nên mổ lấy thai nếu có thể)
Chỉ có khoảng 20% người bị nhiễm bệnh biểu hiện triệu chứng lâm sàng. Hầu hết bệnh nhân bị nhiễm bệnh lần đầu đều biểu hiện triệu chứng lâm sàng. Ngay cả khi bệnh nhân có biểu hiện triệu chứng lâm sàng, họ thấy việc khám bệnh là một điều không cần thiết. Nói chung, triệu chứng lâm sàng thường phát triển nặng ở phụ nữ.
Khi nhiễm bệnh ở giai đoạn đầu, triệu chứng thường nguy hiểm và loét kéo dài hơn. Bệnh nhân bị nhiễm HSV-2 đã từng bị HSV-1 trước đây và có biểu hiện triệu chứng lâm sàng nhẹ hơn. Bệnh nhân bị nhiễm HIV mắc bệnh Herpes nặng hơn.
Tiên lượng bệnh khi mới nhiễm virus vẫn chưa rõ ràng. Nguyên nhân tái phát có thể là 1) HSV-1 hoặc HSV-2, hoặc 2) bị nhiễm nặng ở giai đoạn đầu. Sau 1 năm theo dõi bệnh, tỉ lệ nhiễm HSV-1 tái phát chiếm 55%, nhưng tỉ lệ nhiễm HSV-2 chiếm 80%. Bệnh tái phát thường xảy ra đối với bệnh nhân có triệu chứng nặng khi nhiễm bệnh ở giai đoạn đầu, có lẽ vì bệnh lan vào các tế bào thần kinh nhiều hơn.
Bệnh tái phát cũng tùy vào từng cá nhân và tỉ lệ tái phát trung bình là 5 lần 1 năm. Bệnh tái phát thường phổ biến ở nam giới.
Điều trị bệnh như thế nào?
Uống thuốc chống Virus có thể điều trị được triệu chứng lâm sàng nhưng không điều trị được căn bệnh hoàn toàn. Bệnh sẽ tái phát liên tục.
Một loại thuốc chống Virus còn được gọi là Acyclovir (ACV) được dùng để cản trở yếu tố virus DNA và ngăn cản sự phát triển của Virus.
Hệ miễn dịch yếu do (stress hoặc mệt mỏi), thiếu vệ sinh, hoặc quan hệ tình dục với nhiều người có thể gây bệnh.
Nguồn: http://vietnam.hidoc.com/Sexual/STDCare.aspx?MODE=VIEW&SRNO=163
Bài 3. Bệnh lở Herpes
Hỏi:
Tôi hay bị lở trên môi thường xuyên, cứ vài tháng lại bị một lần. Mỗi lần bị lở kéo dài cả tuần lễ mới hết, làm rất khó chịu nhất là khi ăn uống. Tôi dùng nhiều thứ thuốc bôi nhưng chỉ đỡ chứ không hết hẳn và cứ bị đi bị lại hoài. Ngoài ra chồng tôi cũng hay bị lở ở chỗ kín, mỗi năm bị lở khoảng vài lần. Tôi có vặn hỏi nhưng chồng tôi chối, nói không đi chơi bời bậy bạ bao giờ.
Xin bác sĩ cho biết bệnh lở trên môi của tôi và bệnh lở chỗ kín của chồng tôi có liên quan đến nhau không? Thuốc bôi không thấy có hiệu quả, xin bác sĩ cho biết có thuốc nào uống cho hết hẳn hay không?
Vũ thị L.X.
Đáp:
Bệnh lở môi hay bị đi bị lại của bà và bệnh lở chỗ kín của chồng bà có thể là do bệnh cực vi trùng herpes simplex gây ra. Bệnh lở môi gọi là herpes labialis thường do cực vi trùng herpes loại 1, viết tắt là HSV-1 trong khi bệnh lở của bộ phận sinh dục gọi là herpes genitalis do cực vi trùng herpes loại 2 viết tắt là HSV-2.
Tuy nhiên một số ít trường hợp bệnh lở môi có thể do cực vi trùng loại 2 hay ngược lại, một thiểu số trường hợp bệnh lở sinh dục lại do cực vi trùng herpes loại 1 gây ra bệnh.
Cực vi trùng herpes có đặc điểm là xâm chiếm các tế bào thần kinh cảm giác hay giao cảm và có thể sống trong các tế bào này dưới dạng tiềm ẩn (latency) lâu dài.
Thông thường, cực vi trùng herpes xâm nhập màng nhày ở môi, miệng hay lớp da bị trày trụa, sau đó sẽ vào các tế bào thần kinh cảm giác (sensory nerves) chạy đến các hạch tế bào thần kinh gọi là ganglia, nơi đây sẽ sinh sôi nảy nở và truyền theo dây thần kinh đến vùng da hay màng nhày ở chỗ khác.
Cực vi trùng herpes một khi đã vào cơ thể sẽ tồn tại mãi trong các tế bào thần kinh. Khi ở dưới dạng tiềm ẩn sẽ không gây ra bệnh, tuy nhiên vì một nguyên cớ nào đó, thí dụ như bị chấn thương, bị kích thích do tia sáng tử ngoại, hay khi mức chống cự của cơ thể yếu kém, cực vi trùng herpes sẽ phát tác trở lại gọi là reactivation và gây ra bệnh lở.
Thường những bệnh lở, hoặc ở trên môi miệng do HSV-1 hoặc ở bộ phận sinh dục do HSV-2, đều sẽ tự khỏi sau vài ngày hay một hai tuần dù không chữa trị.
Tuy nhiên, dù thấy hết lở, bệnh do cực vi ttrùng vẫn còn và sẽ trở đi trở lại. Một số bệnh nhân có thể bị bệnh trở lại thường xuyên, vài tuần hay một hai tháng bị lại một lần. Những người khác có thể bị tái phát ít hơn, đôi khi cả một vài năm mới bị một lần.
Khi mới bị lần đầu, bệnh lở herpes thường gây ra nhiều triệu chứng nặng. Phần lớn ở trẻ em và thanh niên, cực vi trùng HSV-1 có thể gây ra lở và sưng môi, lợi, bên trong miệng và cuống họng. Có thể gây ra sốt và nổi hạch ở cổ.
Những triệu chứng này kéo dài từ 3,4 ngày đến cả hàng 2 tuần mới hết. Tuy nhiên khi tái phát sau này, cực vi trùng HSV-1 thường chỉ làm lở ở môi và nhẹ hơn, không nặng như lần đầu tiên.
Có thể nói hầu như người nào đến cỡ 40 tuổi cũng sẽ bị cực vi trùng loại HSV-1 xâm nhập, căn cứ vào mức kháng thể thấy có trên 90% trưòng hợp, tuy có người nhiều người ít triệu chứng. Hoặc có thể có cực vi trùng này nhưng không có triệu chứng gì cả và hoàn toàn không gây ra bệnh. Như thế vấn đề có triệu chứng hay có bệnh trở đi trở lại hay không sẽ tuỳ cơ thể và sức chống cự riêng của mỗi người.
Đối với bệnh lở trên bộ phận sinh dục do HSV-2 gây ra, khi mới bị lần đầu tiên, có thể có nhiều triệu chứng nặng như bị sốt, đi tiểu đau, nổi hạch ở háng và thấy có những vết lở ở trên dương vật hay ở cửa mình. Những triệu chứng này kéo dài vài ngày hay cả tuần, sau đó sẽ bớt dần.
Khoảng 90% những người bệnh bị herpes lần đầu tiên sẽ bị lại trong vòng 12 tháng, trung bình sẽ bị 4 lần lở tiếp theo đó, tuy những lần sau những triệu chứng sẽ ít dần hơn, như chỉ bị thấy ngứa lúc đầu và sau đó bị lở. Thời gian bị có thể cũng sẽ ngắn hơn lần đầu tiên.
Cực vi trùng herpes simplex ngoài việc gây bệnh lở còn có thể gây ra những bênh tại các cơ quan khác. Thường thấy là bệnh herpes ở mắt, làm đau mắt, đỏ mắt và làm lở võng mạc (cornea). Bệnh đỏ mắt do herpes gọi là herpetic keratitis này nguy hiểm vì có thể làm mù mắt vì hư võng mạc.
Đặc biệt nếu bị bệnh herpes trên mắt mà dùng thuốc nhỏ mắt có thuốc steroid, thí dụ như thuốc Maxitrol, Neo-Decadron..., sẽ làm nhiễm trùng herpes nặng hơn nhiều và làm hư võng mạc thêm hay những bộ phận sâu trong mắt làm mù. Vì thế, dùng thuốc nhỏ mắt phải cẩn thận và phải tránh dùng thuốc có chất steroid nếu nghi là bị đỏ mắt do herpes gây ra.
Một bệnh nguy hiểm khác do cực vi trùng herpes simplex gây ra là viêm não bộ (encephalitis). Bệnh viêm này rất nguy hiểm, thường khởi đầu bằng bệnh lở môi, sau đó cực vi trùng herpes theo hệ thống thân kinh xâm chiếm não bộ gây nên viêm não. Người bệnh bị sốt nặng và hôn mê dần. Nếu không định bệnh được và chữa sớm, mức độ tử vong rất cao.
Việc định bệnh cũng khó khăn vì muốn định bệnh chính xác phải làm biopsy, cắt một miếng não để nhìn dưới kính hiển vi. Vì thế, nhiều trường hợp phải chữa trị ngay bằng thuốc Acyclovir truyền vào tĩnh mạch khi nghi ngờ bị viêm não bộ do cực vi trùng herpes vì để lâu sẽ khó chữa hay có chữa khỏi cũng bị nhiều biến chứng thần kinh nguy hiểm.
Một chứng bệnh khác cũng nguy hiểm ở trẻ sơ sinh khi người mẹ mang thai đến gần ngày đẻ bị nhiễm cực vi trùng HSV, khi sinh sẽ làm đứa bé sơ sinh bị nhiễm bệnh cực vi trùng này làm rất nguy hiểm, gây ra chết hay nếu có chữa được, đứa trẻ khi lớn lên cũng không bình thường.
Việc định bệnh nhiễm cực vi trùng herpes có thể dùng cách nhuộm gọi là Tzanck preparation, cạo một chút vết lở và nhuộm sẽ thấy có những đại tế bào đặc biệt của bệnh này, hay trong nhân có những vật thể gọi là intranuclear inclusions và sẽ định bệnh được. Chắc chắn hơn nữa là cấy cực vi trùng nhưng cách cấy này rất khó khăn nên ít thực hiện.
Thông thường nếu chỉ bị lở môi hay lở ở bộ phận sinh dục, có thể đoán bệnh bằng cách khám nghiệm thường và có thể cho thuốc chữa trị ngay không cần phải đợi kết quả thử nghiệm chắc chắn hẳn. Riêng trường hợp bị lở ở bộ phân sinh dục, cần phải thử máu thêm về bệnh giang mai và bệnh AIDS vì có thể đi chung với nhau và cùng là những bệnh truyên nhiễm do giao tiếp tính dục.
Cách chữa bệnh lở do herpes hiện nay có nhiều loại thuốc. Trước hết là loại thuốc thoa gồm penciclovir và acyclovir (bán duới tên thương mại là Zovirax). Tuy nhiên thuốc thoa chỉ dùng cho những trường hợp bị herpes lần đầu và phải thoa nhiều lần trong ngày, cứ bốn tiếng một lần như Zovirax. Đối với bệnh lở herpes tái phát trở đi trở lại, thuốc thoa không công hiệu mấy.
Thuốc uống hiện nay có 3 loại là acyclovir, famciclovir (bán dưới tên Famvir) và valcyclovir (bán dưới tên Valtrex). Thuốc avyclovir uống 200mg ngày 5 lần trong vòng 10 đến 14 ngày cho bệnh lở herpes lần đầu. Những lần sau có thể uống trong 5 ngày. Đối với người bị đi bị lại quá thường hàng 10 - 12 lần trong một năm, có thể dùng thuốc acyclovir đều đặn ngày 2 lần, uống hẳn trong 6 tháng để ngăn chặn.
Những thuốc Famvir và Valtrex mới hơn và chỉ cần uống ngày 3 lần hay 2 lần, không quá nhiều lần như acyclovir. Như thuốc Valtrex cho bệnh lở herpes ở bộ phận sinh dục bị tái phát chỉ cần uống 500 mg ngày 2 lần trong 3 ngày, hiệu quả và tiện hơn thuốc acyclovir.
Đặc biệt đối với bệnh lở môi herpes labialis khi bị trở đi trở lại, thuốc acyclovir không có công hiệu mấy để ngăn chặn. Thuốc mới được cơ quan FDA chấp thuận cho dùng để chữa là valcyclovir hay Valtrex, có thể dùng 2 grams ngày hai lần trong một ngày duy nhất để chữa bệnh lở môi tái phát. Nếu bị quá nhiều và trở đi trở lại quá thường xuyên, có thể dùng Valtrex 500 mg ngày một lần uống trong 4 tháng để ngăn chặn.
Tuy nhiên những thuốc trên chỉ chữa cho bệnh lở môi không lan nặng thêm và rút ngắn thời gian bị bệnh, không phải chữa cho dứt tuyệt hẳn. Hiện vẫn chưa có thuốc để chữa dứt hẳn bệnh herpes không bao giờ bị trở lại.
Tóm lại, bệnh lở do herpes gây ra là bệnh rất thường thấy. Tuy bệnh chỉ làm lở trong ít lâu và tự khỏi, một số ít trường hợp có thể có những biến chứng nguy hiểm như bệnh viêm não.
Bệnh này hiện nay đã có nhiều thuốc công hiệu để làm chóng lành và ngăn chặn không tái phát thường xuyên, nhưng vẫn chưa có thuốc để trị tuyệt hẳn cực vi trùng herpes vì cực vi trùng này vẫn có thể nằm dưới dạng tiềm ẩn trong giây thần kinh. Tuy nhiên với những thuốc công hiệu hiện nay, bệnh lở herpes tương đối đã có thể chữa một cách nhanh chóng và hiệu quả hơn trước nhiều.
Nguồn: www.nguyendinhphung.com/Medicine/134.doc
Bài 4. Các hiểu lầm về bệnh Herpes
Thỉnh thoảng môi bạn xuất hiện những vết phồng rộp đau rát, đó là do virus herpes gây ra. Virus này còn gây chứng mụn rộp ở cơ quan sinh dục.
Có khá nhiều điều ngộ nhận về herpes:
Herpes môi không lây
Hoàn toàn sai lầm. Ngược lại, virus Herpes type 1 (HSV-1), thủ phạm gây rộp môi, sẽ bị phát đi khi ho và hắt hơi. Cả HSV-1 và HSV-2 (gây mụn rộp sinh dục) đều lây lan qua những tiếp xúc trực tiếp như quan hệ tình dục, hôn, đụng chạm hay dùng chung vật dụng cá nhân như cốc uống nước, son môi, bàn chải đánh răng…
Bệnh Herpes sinh dục có thể gây ảnh hưởng nghiêm trọng với trẻ sơ sinh khi chào đời theo kiểu đẻ thường. Nguy cơ này sẽ tăng cao nếu người mẹ bị nhiễm HSV-2 trong giai đoạn thứ ba của thai kỳ. Trong trường hợp ấy, cơ thể thai phụ thiếu các kháng thể bảo vệ nên dễ truyền virus sang con.
Herpes môi sẽ khỏi sớm nếu nốt rộp xuất hiện
Sai. Sự xuất hiện những vết phồng rộp trên môi chứng tỏ hệ miễn dịch đã bị kiềm chế, không không phát huy được khả năng ngừa bệnh lan tới trung tâm dây thần kinh.
Chữa khỏi herpes sẽ không bao giờ bị lại
Sẽ thật tuyệt vời nếu cái gì cũng có kết thúc đẹp đẽ như vậy, nhưng với bệnh Herpes thì không thế. Khi vào cơ thể, cả HSV-1 và HSV-2 đều di chuyển tới những nơi tập trung các dây thần kinh nhạy cảm, cư trú lâu dài ở đó, đợi khi cơ thể suy yếu để tấn công trở lại.
HSV-1 chỉ bị lây khi có vết phồng trên môi
Thực tế, nguy cơ lây lan virus cao hơn khi có vết phồng chứa nước vì lúc ấy virus đã hoạt động trở lại. Tuy nhiên, chúng có thể di chuyển bất cứ lúc nào dù đó là những tổn thương rất nhỏ trên da hay màng nhầy.
Dùng bao cao su thì không sợ lây herpes sinh dục
“Áo mưa” đã được chứng minh là một phương tiện hiệu quả trong việc giảm nguy cơ lây lan HSV-2. Tuy nhiên, bao cao su không an toàn tuyệt đối vì virus có thể lây qua sự tiếp xúc da với những vùng không được bảo vệ của cơ thể. Nó cũng có thể lây nếu bao cao su chất lượng kém hoặc không phù hợp.
Có thể diệt herpes bằng cồn hay iốt
Việc dùng các chất sát trùng mạnh ở vùng bị herpes không thể diệt hoàn toàn virus hay khống chế sự phát triển của herpes. Chúng còn dễ đốt cháy da.
Các chất khử trùng không chứa cồn có thể được dùng để ngăn ngừa nhiễm trùng mụn mủ. Việc uống vitamin tổng hợp hằng ngày rất có ích trong việc duy trì khả năng của hệ miễn dịch và ngăn ngừa tái phát herpes.
Herpes chỉ ảnh hưởng đến da
Thực tế, nhiễm herpes là nguyên nhân quan trọng gây tử vong ở người. Virus herpes dạng thường có thể tự kết hợp trong các tế bào thần kinh nên những vết đau xuất hiện trên da rất gần với các đầu dây thần kinh. Về lý thuyết, nó có thể xuất hiện ở bất cứ nơi nào có dây thần kinh nên cơ quan nào cũng có thể bị tổn thương, thậm chí cả não.
Những người bị herpes bẩm sinh có thể bị nhiều rối loạn chức năng hay tử vong ngay khi còn nhỏ. Herpes sinh dục có thể dẫn đến ung thư cổ tử cung và ung thư tuyến tiền liệt ở đàn ông.
Trị lở miệng
Một khi bị lở miệng, bạn ăn uống kém đi. Nguyên nhân gây ra lở miệng thường là do bạn dùng nhiều thực phẩm cay và chua; do vệ sinh răng miệng kém; bị căng thẳng; hoặc do ăn uống thiếu dưỡng chất như vitamin B, C.
Thông thường, chứng lở miệng sẽ hết trong vòng 7-10 ngày. Sau đây là một số cách giúp các vết loét ở miệng mau lành, theo báo The Times of India dẫn nguồn tin từ các chuyên gia Ấn Độ.
- Rửa sạch lá cà-ri và đem đun sôi với nước. Sau đó, vớt lá cà-ri ra và súc miệng bằng loại nước này 2-3 lần/ngày.
- Ăn cà chua sống giúp trị lở loét. Ngoài ra, bạn có thể súc miệng bằng nước ép cà chua.
- Uống sữa dừa và nhẹ nhàng dùng sữa dừa xoa nhẹ chỗ vết loét trong miệng.
- Hằng ngày, súc miệng bằng nước súc miệng, trước khi đi ngủ hoặc tốt nhất là sau bữa ăn trưa và tối. Cách này không chỉ giúp ngăn chặn việc hình thành các vết lở loét ở miệng mà còn giúp chống hôi miệng.
- Bôi kem đánh răng chỗ vết loét cũng giúp vết loét mau lành.
- Tránh uống các loại nước nóng như trà, cà phê. Hạn chế ăn thực phẩm cay và nhiều dầu, chỉ càng làm chứng loét miệng thêm nặng.
- Dùng nhiều thực phẩm giàu can-xi, vitamin C như sữa chua, sữa, phô-mai và nước cam.
- Chỉ ăn một lượng vừa phải cá, thịt, trứng; vì những thực phẩm này làm tăng hàm lượng a-xít trong cơ thể, dễ gây ra loét miệng.
Nhất Linh
Theo Thanh Niên – Thứ năm, ngày 05 tháng năm năm 2011
Thông thường, chứng lở miệng sẽ hết trong vòng 7-10 ngày. Sau đây là một số cách giúp các vết loét ở miệng mau lành, theo báo The Times of India dẫn nguồn tin từ các chuyên gia Ấn Độ.
- Rửa sạch lá cà-ri và đem đun sôi với nước. Sau đó, vớt lá cà-ri ra và súc miệng bằng loại nước này 2-3 lần/ngày.
- Ăn cà chua sống giúp trị lở loét. Ngoài ra, bạn có thể súc miệng bằng nước ép cà chua.
- Uống sữa dừa và nhẹ nhàng dùng sữa dừa xoa nhẹ chỗ vết loét trong miệng.
- Hằng ngày, súc miệng bằng nước súc miệng, trước khi đi ngủ hoặc tốt nhất là sau bữa ăn trưa và tối. Cách này không chỉ giúp ngăn chặn việc hình thành các vết lở loét ở miệng mà còn giúp chống hôi miệng.
- Bôi kem đánh răng chỗ vết loét cũng giúp vết loét mau lành.
- Tránh uống các loại nước nóng như trà, cà phê. Hạn chế ăn thực phẩm cay và nhiều dầu, chỉ càng làm chứng loét miệng thêm nặng.
- Dùng nhiều thực phẩm giàu can-xi, vitamin C như sữa chua, sữa, phô-mai và nước cam.
- Chỉ ăn một lượng vừa phải cá, thịt, trứng; vì những thực phẩm này làm tăng hàm lượng a-xít trong cơ thể, dễ gây ra loét miệng.
Nhất Linh
Theo Thanh Niên – Thứ năm, ngày 05 tháng năm năm 2011
“Sức khoẻ” của răng liên quan đến não
Các nhà khoa học Na Uy đã công bố một nghiên cứu thú vị: tình trạng bộ răng của chúng ta có mối liên quan chặt chẽ tới khả năng ghi nhớ của bộ não.
Trang Hot-info của Nga cho hay, trong quá trình nghiên cứu về răng, các nhà khoa học Na Uy đã tìm hiểu mối liên quan giữa tình trạng “sức khoẻ” của bộ răng với khả năng nhận thức của con người và phát hiện ra rằng giữa hai điều tưởng chẳng có gì quan hệ với nhau lại có một mối liên quan rất trực tiếp.
Chúng ta đều biết, các cơ quan trong cơ thể có mối liên hệ mật thiết với nhau mà các nhà khoa học chưa thể giải thích, song người ta đã biết giữa răng và nhiều bộ phận có quan hệ với nhau. Hỏng răng, yếu răng liên quan đến nhiều bệnh tật.
Chẳng hạn, người ta thấy viêm chân răng có thể dẫn đến viêm nhiễm nhiều cơ quan nội tạng. Nếu chân răng bị viêm thường xuyên thì có nguy cơ cao mắc các bệnh tim mạch ở cả hai giới nam và nữ, dẫn tới tắc nghẽn động mạch, chai cứng thành mạch máu tim, tai biến mạch máu não.
Đặc biệt nữ ở nữ giới viêm chân răng có thể làm những người mang thai bị sinh non. Nếu răng xuất hiện nhiều mảng bám có thể là dấu hiệu của bệnh tiểu đường (có thể khi hàm lượng đường trong máu cao làm vi khuẩn trong miệng phát triển nhanh và nhiều hơn, kết quả là tạo thành những mảng bám trên răng). Nếu chân răng hay bị chảy máu thông thường là do thiếu vitamin K, vitamin C hoặc sự thay đổi hocmon…
Trong nghiên cứu mới này của các bác sĩ Na Uy, đã phát hiện mối liên quan giữa răng và não. Các bệnh về răng gây ra những thay đổi trên những tấm ảnh chụp cắt lớp của não. Khi bị nhổ răng, người ta thấy có ảnh hưởng xấu đến vùng này của não và giảm độ nhạy cảm của các vùng khác. Bệnh của răng còn ảnh hưởng đến trí nhớ và làm tăng nguy cơ bị lú lẫn ở người cao tuổi (Alzheimer).
Các bác sĩ khuyên nên chú ý đặc biệt đến “sức khoẻ” của răng vì chúng nằm ở “cửa ngõ” để các chất đi vào cơ thể, cố gắng giữ gìn vệ sinh răng miệng, giữ gìn cho răng không bị mắc bệnh và “sống lâu” theo tuổi tác.
Theo VNN
Trang Hot-info của Nga cho hay, trong quá trình nghiên cứu về răng, các nhà khoa học Na Uy đã tìm hiểu mối liên quan giữa tình trạng “sức khoẻ” của bộ răng với khả năng nhận thức của con người và phát hiện ra rằng giữa hai điều tưởng chẳng có gì quan hệ với nhau lại có một mối liên quan rất trực tiếp.
Chúng ta đều biết, các cơ quan trong cơ thể có mối liên hệ mật thiết với nhau mà các nhà khoa học chưa thể giải thích, song người ta đã biết giữa răng và nhiều bộ phận có quan hệ với nhau. Hỏng răng, yếu răng liên quan đến nhiều bệnh tật.
Chẳng hạn, người ta thấy viêm chân răng có thể dẫn đến viêm nhiễm nhiều cơ quan nội tạng. Nếu chân răng bị viêm thường xuyên thì có nguy cơ cao mắc các bệnh tim mạch ở cả hai giới nam và nữ, dẫn tới tắc nghẽn động mạch, chai cứng thành mạch máu tim, tai biến mạch máu não.
Đặc biệt nữ ở nữ giới viêm chân răng có thể làm những người mang thai bị sinh non. Nếu răng xuất hiện nhiều mảng bám có thể là dấu hiệu của bệnh tiểu đường (có thể khi hàm lượng đường trong máu cao làm vi khuẩn trong miệng phát triển nhanh và nhiều hơn, kết quả là tạo thành những mảng bám trên răng). Nếu chân răng hay bị chảy máu thông thường là do thiếu vitamin K, vitamin C hoặc sự thay đổi hocmon…
Trong nghiên cứu mới này của các bác sĩ Na Uy, đã phát hiện mối liên quan giữa răng và não. Các bệnh về răng gây ra những thay đổi trên những tấm ảnh chụp cắt lớp của não. Khi bị nhổ răng, người ta thấy có ảnh hưởng xấu đến vùng này của não và giảm độ nhạy cảm của các vùng khác. Bệnh của răng còn ảnh hưởng đến trí nhớ và làm tăng nguy cơ bị lú lẫn ở người cao tuổi (Alzheimer).
Các bác sĩ khuyên nên chú ý đặc biệt đến “sức khoẻ” của răng vì chúng nằm ở “cửa ngõ” để các chất đi vào cơ thể, cố gắng giữ gìn vệ sinh răng miệng, giữ gìn cho răng không bị mắc bệnh và “sống lâu” theo tuổi tác.
Theo VNN
Subscribe to:
Posts (Atom)