(Dân trí) - Người bị huyết áp cao thường xuyên uống trà thảo dược và mát-xa chân, đầu sẽ có tác dụng hỗ trợ nhất định.
- Trà hoa cúc: Mỗi lần lấy 3g hoa cúc khô, ngâm nước sôi uống thay trà. Ngày 3 lần.
- Trà sơn trà: Lấy 2-3 quả sơn trà non tươi, ngâm nước sôi uống thay trà nhiều lần trong ngày.
- Trà lá bạc hà: Lấy nửa lá bạc hà, rửa sạch, thái nhỏ, đun thành nước uống thay trà.
- Trà hoa hồng: Ngâm nụ hoa hồng khô với nước sôi, uống thay trà.
- Trà hà thủ ô: Lấy 20-30g hà thủ ô, đun với lượng nước vừa đủ trong 30 phút. Uống khi ấm nhiều lần trong ngày thay trà. Mỗi ngày 1 liều.
- Trà sắn dây: Lấy 30g sắn dây, rửa sạch, thái lát mỏng, đun thành nước uống thay trà.
- Trà tâm sen: Lấy 12g tâm sen, ngâm nước sôi uống thay trà. Ngày 2 lần sáng tối.
Nếu có thể kết hợp mát-xa đầu và chân đồng thời sẽ mang lại hiệu quả càng cao.
Cách mát-xa đầu
- Mỗi ngày chải đầu 3 lần sáng, trưa, tối. Dùng lực vừa phải chải một lượt tất cả các vùng trên đầu, mỗi lần 2-3 phút.
- Sau đó dùng 2 bàn tay như chiếc lược, mát-xa não bộ từ trán cho tới sau gáy, rồi đan 2 tay vào nhau, dùng lực lòng bàn tay ấn để mát-xa não bộ.
Cách mát-xa chân
- Thường xuyên dùng bàn tay miết lòng bàn chân có tác dụng kiện thận, ích trí, điều chỉnh khí, điều hòa chức năng tim thận.
Phạm Thúy
Theo people
VinacomBank.com Phân tích Tài chính Ngân Hàng, Doanh Nghiệp Việt Nam Thế Giới. Tin tức thị trường BĐS, kinh doanh, tiền tệ, chứng khoán, giá vàng hiện nay.
Showing posts with label Bệnh tim. Show all posts
Showing posts with label Bệnh tim. Show all posts
Sunday, September 4, 2011
Tuesday, August 23, 2011
Phương pháp hạ huyết áp không cần dùng thuốc
Với những người bị bệnh cao huyết áp nếu kết hợp việc uống thuốc hàng ngày với kiên trì thực hiện những biện pháp sau cũng sẽ có hiệu quả nhất định
Giữ tinh thần thoải mái, không nên nóng nảy
Những lo lắng, bực bội khiến cho tinh thần căng thẳng, mỏi mệt, kích thích thần kinh giao cảm, làm cho mạch máu trong toàn cơ thể bị co bóp, tim đập mạnh, huyết áp tăng lên, thậm chí có thể bị xuất huyết não.
Ngoài ra, khi chúng ta nói chuyện nhanh, giọng nói to khiến huyết áp sẽ tăng lên 50%, vì vậy, không nên nói quá nhanh.
Uống sữa
Cao huyết áp và thiếu can-xi có liên quan chặt chẽ với nhau, trong khi đó sữa giàu chất can-xi, mỗi ngày uống 2 cốc sữa có thể cung cấp cho cơ thể 700 miligam can-xi, giúp bình ổn huyết áp.
Ăn tỏi
Nghiên cứu cho thấy, những người bị cao huyết áp nếu ngày nào cũng ăn tỏi và ăn liên tục trong 12 tuần, thì huyết áp sẽ trở lại trạng thái bình thường.
Bổ sung vitamin C
Những người trong cơ thể thiếu chất vitamin C thì huyết áp tương đối thấp. Vì vậy, nên bổ sung ăn hoa quả, rau xanh giàu chất vitamin C như cam quýt, sơn trà, cà chua, cần tây…
Theo Gia đình & Xã hội
Giữ tinh thần thoải mái, không nên nóng nảy
Những lo lắng, bực bội khiến cho tinh thần căng thẳng, mỏi mệt, kích thích thần kinh giao cảm, làm cho mạch máu trong toàn cơ thể bị co bóp, tim đập mạnh, huyết áp tăng lên, thậm chí có thể bị xuất huyết não.
Ngoài ra, khi chúng ta nói chuyện nhanh, giọng nói to khiến huyết áp sẽ tăng lên 50%, vì vậy, không nên nói quá nhanh.
Uống sữa
Cao huyết áp và thiếu can-xi có liên quan chặt chẽ với nhau, trong khi đó sữa giàu chất can-xi, mỗi ngày uống 2 cốc sữa có thể cung cấp cho cơ thể 700 miligam can-xi, giúp bình ổn huyết áp.
Ăn tỏi
Nghiên cứu cho thấy, những người bị cao huyết áp nếu ngày nào cũng ăn tỏi và ăn liên tục trong 12 tuần, thì huyết áp sẽ trở lại trạng thái bình thường.
Bổ sung vitamin C
Những người trong cơ thể thiếu chất vitamin C thì huyết áp tương đối thấp. Vì vậy, nên bổ sung ăn hoa quả, rau xanh giàu chất vitamin C như cam quýt, sơn trà, cà chua, cần tây…
Theo Gia đình & Xã hội
Wednesday, August 17, 2011
BỆNH MÁU HUYẾT TÁN (2 bài)
Điều trị thiếu máu huyết tán
(Dân trí) - Em có người bạn gái bị mắc bệnh máu huyết tán, nguyên nhân của căn bệnh này là gì và có thể chữa trị được không? (Lê Thị Hà- huyện Văn Chấn- tỉnh Yên Bái).
Trả lời của BS. Nguyễn Văn Dũng, BV Việt- Đức
Thiếu máu huyết tán là bệnh hay mắc phải ở nữ giới và ở nhiều lứa tuổi khác nhau. Ở một số dân tộc ít người tỷ lệ mắc căn bệnh này rất cao. Nếu không được tiếp máu kịp thời người bệnh sẽ suy kiệt và dẫn đến tử vong. Vì vậy bệnh nhân phải được điều trị tại các cơ sở có chuyên khoa huyết học.
Người mắc bệnh thiếu máu huyết tán sẽ có hiện tượng huyết cầu tố giải phóng trong máu, tái hấp thu vào tổ chức liên võng để trở thành bilirubin gián tiếp. Khi hồng cầu bị tiêu hủy quá mức (sự tan máu) thì lượng huyết cầu tố trong máu tăng, bilirubin gián tiếp tăng, gây hiện tượng hồng cầu bị giảm đi do nhiều hồng cầu bị tiêu hủy (vỡ ra) gọi là dung huyết, huyết tán hay tan máu sẽ dẫn đến thiếu hồng cầu, vàng da.
Biểu hiện và nguyên nhân
Bệnh có thể xảy ra đột ngột hoặc từ từ. Người bệnh thiếu máu thường xanh xao, nhợt nhạt, cảm giác mệt mỏi, huyết áp tụt, mạch nhanh, xương khớp bị đau nhức, nhức đầu, hay bị chóng mặt.
Có trường hợp sốt cao, rét run, cũng có bệnh nhân không bị sốt. Mắt người bệnh vàng, da vàng nhạt, lách to, mềm. Gan cũng có thể bị to ra; nước tiểu sẫm màu, số lượng ít.
Nguyên nhân gây ra bệnh thiếu máu huyết tán khá phức tạp, có thể do bẩm sinh hoặc mắc phải. Huyết tán bẩm sinh do những bất thường về men, về huyết sắc tố trong hồng cầu, trong đó có bệnh Minkowski - Chaufaud, bệnh Cooley, bệnh Thalassemie.
Huyết tán mắc phải lại do nhiễm khuẩn huyết như liên cầu, sốt rét, thể sốt vàng đái huyết cầu tố, bị nhiễm độc do ăn phải nấm độc, thạch tín, do dị ứng một số hóa chất như benzen, sulfamid, quinin, một số thuốc giảm sốt, giảm đau...
Cũng có thể do tác nhân vật lý như bị bỏng nặng, bị lạnh.
Huyết tán còn do các bệnh tự miễn, sau các bệnh ác tính, như bệnh bạch cầu, sắc côm hạch, ung thư, xơ gan, lách to...
Phương pháp điều trị
Hiện nay, phương pháp điều trị chủ yếu đối với bệnh này là điều trị bằng truyền máu, tùy theo nguyên nhân gây bệnh, bác sĩ sẽ có những chỉ định điều trị cụ thể. Để giải quyết tình trạng máu dự trữ khan hiếm như hiện nay các bệnh viện lớn đã tiến hành truyền máu từng phần, nhằm đáp ứng đúng nhu cầu cần thiết cho cơ thể bệnh nhân.
Đối với thiếu máu huyết tán bẩm sinh, nhiều nguyên nhân do yếu tố di truyền, như bệnh Thalassemie. Đối với các nguyên nhân mắc phải (như nhiễm khuẩn, sốt rét, nhiễm khuẩn huyết do liên cầu...) có thể phòng chống được bằng cách không để xuất hiện các bệnh như đã nêu hoặc khi bị bệnh cần điều trị sớm và triệt để.
Vấn đề có vai trò quan trọng trong phòng bệnh là giữ vệ sinh cơ thể, ngủ màn chống muỗi đốt để tránh bị sốt rét, ăn uống đủ chất để nâng cao sức đề kháng, không uống rượu, hút thuốc lá, tránh tiếp xúc với những nơi có môi trường độc hại để hạn chế nguy cơ mắc các bệnh ung thư, qua đó giảm được căn bệnh thiếu máu huyết tán. Vấn đề tư vấn và sàng lọc trước khi sinh cũng đang được đặt ra để giảm thiểu số trẻ sinh ra mắc bệnh.
Phạm Thanh
Bệnh huyết tán: Sống chung với bệnh cả đời
Bệnh huyết tán (Thalassemia) là một căn bệnh nguy hiểm, hằng năm đã cướp đi sinh mạng của 300- 500 đứa trẻ ở nước ta. Những đứa trẻ mắc phải căn bệnh này do bố mẹ mang gen bệnh mà không biết. Khi bị bệnh huyết tán, bệnh nhân chỉ có thể duy trì sự sống bằng cách truyền máu liên tục.
Chị Quách Thị Hằng người dân tộc Mường ở xã Liên Hoà, huyện Lạc Thủy, tỉnh Hoà Bình đưa cháu Hiếu đến khoa Huyết học Bệnh viện Nhi Trung ương truyền máu. Nhìn thân hình gầy gò xanh xao, chỉ nặng 13kg, đôi mắt lờ đờ mệt mỏi, không ai nghĩ cháu đã 4 tuổi.
Cháu Hiếu được các bác sỹ chẩn đoán mắc bệnh huyết tán bẩm sinh do bố và mẹ mang gen bệnh từ khi kết hôn mà không biết. Hàng tháng, hai mẹ con chị Hằng lại khăn gói lên Hà Nội khám và truyền máu.
Cả gia đình chị Hằng chỉ trông vào 2 sào ruộng cộng với việc buôn bán lặt vặt đủ ăn qua ngày. Vì thế, lặn lội lên Hà Nội khám và truyền máu cho con, chị đã phải vay ngân hàng 2 triệu đồng để vừa lo tiền thuốc thang, tiền ăn ở đi lại.
Tâm sự với chúng tôi, chị Hằng không giấu nổi nước mắt: "Thương con, có tốn kém bao nhiêu gia đình tôi cũng cố chạy vạy cho đủ". Nhưng, với hoàn cảnh khó khăn như vậy, liệu gia đình chị có thể cầm cố và duy trì sự sống cho cháu Hiếu đến khi nào.
Cũng giống như chị Hằng, anh Nguyễn Đức Thung ở xã Mão Điền, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh đưa cháu Nguyễn Đức Chương mới 10 tuổi đến bệnh viện theo dõi bệnh và tiếp tục truyền máu. Cháu khá xanh xao, gầy yếu do thường xuyên bị chảy máu chân răng. Gánh nặng thực sự đổ lên gia đình anh bởi đứa con thứ hai của gia đình anh mới được 3 tuổi nhưng cũng được các bác sỹ chẩn đoán mang bệnh huyết tán bẩm sinh.
Anh cho biết: Hai anh chị lấy nhau, sinh ra cháu Chương cũng bình thường như bao đứa trẻ khác. Nhưng được khoảng 3 tuổi, cháu bắt đầu có triệu chứng như chảy máu chân răng kéo dài. Càng ngày cháu càng xanh xao, lá lách to. Đi khám mới biết anh và chị mang gen bệnh huyết tán. Gia đình đã chạy vạy, lo chi phí phẫu thuật cắt lách cho cháu Chương. Sau đó, mỗi tuần, anh lại khăn gói lên Hà Nội truyền máu cho cháu. Gia đình anh vốn đã thuộc diện nghèo, khó khăn lại như thêm chồng chất.
Gia đình chị Hằng, anh Thung chỉ là hai trong rất nhiều gia đình đang phải gồng mình đối chọi với căn bệnh huyết tán. Tại phòng khám bệnh Bệnh viện Nhi Trung ương buổi chiều 30/8, chúng tôi bắt gặp hàng chục cảnh ngộ các gia đình có con nhỏ bị căn bệnh quái ác ấy hành hạ.
Nhìn những đứa trẻ xanh xao, gầy gò mà chúng tôi không khỏi xót xa. Các bác sỹ tại phòng khám cho biết: Trung bình mỗi ngày có từ 30-50 bệnh nhân huyết tán được đưa đến, phần lớn đều là những gia đình dân tộc điều kiện kinh tế rất khó khăn. Nếu không chữa trị kịp thời, các bệnh nhân sẽ lay lắt sống thiếu máu và tử vong trước 10-15 tuổi.
Tư vấn và sàng lọc trước khi sinh
Bác sỹ Dương Bá Trực - Trưởng khoa Huyết học - Truyền máu Bệnh viện Nhi TW cho biết: Trong những năm gần đây, tỉ lệ người mắc bệnh huyết tán bẩm sinh có xu hướng tăng. Người dân tộc sống trong vùng sốt rét, điều kiện khám chữa bệnh không thường xuyên lại thường kết hôn sớm nên tỉ lệ người mắc bệnh cao.
Trong vòng 20 năm, qua các nghiên cứu, ở người Mường tỉ lệ này chiếm tới 12% dân cư, người Tày là 12% và người Thái chiếm tỉ lệ cao nhất 20-25%. Tỉ lệ người Kinh mang gen bệnh này thấp, chỉ khoảng 2,4%. Nguyên nhân dẫn tới căn bệnh này là do bố mẹ các em mang gen bệnh nhưng không biết.
Chính vì vậy, khi sinh con, bệnh mới biểu hiện ra bên ngoài với các triệu chứng ban đầu như sốt nhẹ, đi ngoài. Sau đó, biểu hiện chung của người bệnh huyết tán là da xanh vàng, mắt to, mũi tẹt, răng vẩu. Nếu không được truyền máu kịp thời, bệnh nhân sẽ bị suy kiệt và dẫn đến tử vong trước tuổi thành niên.
Tuy nhiên, hiện nay, ngân hàng máu ở các bệnh viện luôn trong tình trạng khan hiếm. Các bệnh nhân phần lớn lại có điều kiện gia đình khó khăn, việc duy trì sự sống cho các em đều được tính bằng ngày, bằng tháng với những khoản tiền đi vay mượn.
Để có thể chữa khỏi bệnh cho các bệnh nhân huyết tán là một điều vô cùng khó khăn bởi chỉ có thể sử dụng phương pháp cấy ghép tuỷ xương. Hiện nay, các trường hợp phẫu thuật cấy ghép tuỷ xương ở Việt Nam thành công cực kỳ hiếm hoi, trong khi đó chưa kể đến chi phí cấy ghép cực cao, tìm được người cho tuỷ xương khó khăn như "mò kim đáy bể".
Các bệnh nhân huyết tán chỉ có thể kéo dài sự sống bằng cách truyền máu liên tục hoặc uống thuốc thải sắt. Chi phí cho một lần tiếp máu từ 100.000 đồng-200.000 đồng, thuốc thải sắt cũng có giá bán tương đối cao. Sau một thời gian dài không được sử dụng thuốc thải sắt, tim và gan sẽ to, bệnh nhân dễ bị tử vong do không được điều trị đến nơi đến chốn.
Bác sỹ Trực khuyến cáo: Vấn đề tư vấn và sàng lọc trước khi sinh đối với các cặp vợ chồng sau khi kết hôn có vai trò cực kỳ quan trọng, sẽ giảm thiểu một cách đáng kể "những cái chết được báo trước" này. Một điều khiến cho bác sỹ Dương Bá Trực băn khoăn: Đây vốn là một căn bệnh khá nguy hiểm, hàng năm cướp đi sinh mệnh của hàng trăm đứa trẻ.
Bên cạnh đó, ngân hàng máu tại các bệnh viện luôn trong tình trạng khan hiếm. Các bệnh nhân phần lớn có điều kiện gia đình khó khăn, việc duy trì sự sống cho các em đều được tính bằng ngày, bằng tháng. Nhưng, các hình thức tuyên truyền và phổ biến cách phòng tránh căn bệnh huyết tán còn khá ít. Căn bệnh nguy hiểm này dường như vẫn đang bị lãng quên
Nguyễn Hương-Bích Huệ
Monday, July 18, 2011
Gày vẫn bị máu nhiễm mỡ
Người gày như que củi nên chị Như (27 tuổi, Hà Nội) không bao giờ nghĩ mình mắc các bệnh do thừa mỡ như người béo phì. Gần đây đi khám sức khỏe định kỳ, chị rất bất ngờ khi bác sĩ thông báo chị bị mỡ trong máu cao.
Cao 1m63, nặng 45 kg, chị Như thuộc dạng mình hạc xương mai. Lúc nào chị cũng nghĩ người gày cũng có lợi thế của nó là không lo sợ mắc mấy bệnh do béo phì kiểu như gan nhiễm mỡ, tiểu đường, tăng huyết áp... Thế nên khi biết bệnh, chị không tin, tưởng bác sĩ trả nhầm kết quả.
"Người mình gày đét, có chỗ mỡ thừa nào đâu mà có mỡ trong máu. Nhưng nghĩ lại trước đây đã có lần mình thấy hoa mắt, chóng mặt, bác sĩ bảo có thể do mỡ trong máu cao dẫn đến tăng huyết áp. Lúc đó mình chỉ nghĩ đơn giản làm việc nhiều nên mệt thôi", chị Như nói.
Cũng giống như chị Như, rất nhiều người Việt Nam vẫn cho rằng người gày thì không bao giờ bị mỡ máu cao. Đây là một quan niệm sai lầm. Gày và mỡ trong máu là hai thông số độc lập với nhau, bác sĩ Ngô Chí Hiếu, Trưởng khoa Hồi sức, Bệnh viện Tim Hà Nội cho biết.
"Đúng là trong số những người bị béo phì thì tỷ lệ bị máu nhiễm mỡ cao hơn rất nhiều. Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là người gày không mắc bệnh này", bác sĩ Hiếu nói.
Theo bác sĩ, máu nhiễm mỡ là từ mà nhiều người dân hay dùng, y học gọi là rối loạn lipid máu hay mỡ máu cao. Bình thường trong máu có một tỷ lệ mỡ nhất định, được đánh giá bằng chỉ số xét nghiệm cholesterol, triglycerid... Nếu các chỉ số này cao hơn mức cho phép thì gọi là mỡ máu cao. Trong đó, cholesterol cao là chỉ số đặc trưng của bệnh.
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến bệnh: di truyền, yếu tố gia đình, chế độ ăn, sinh hoạt không hợp lý, như ăn quá nhiều thịt chó, phủ tạng động vật, tiết canh, hải sản..., uống nhiều rượu bia, dẫn đến rối loạn chuyển hóa mỡ.
Biểu hiện bệnh ở người trẻ thường thầm kín, hầu như không có triệu chứng. Nhiều người chỉ vô tình phát hiện ra bệnh khi khám sức khỏe định kỳ hoặc thấy huyết áp cao, đau đầu thì đi làm thêm xét nghiệm máu thì đã thấy bị mỡ máu cao. Ở người già thì biểu hiện rõ ràng hơn, có đến 90% là tăng huyết áp, đái tháo đường đi kèm với tăng mỡ máu, bác sĩ Hiếu cho biết.
Bệnh nguy hiểm ở chỗ nếu không điều trị về lâu dài sẽ có thể dẫn đến nhiều biến chứng như: xơ, dày thành mạch máu, làm tăng huyết áp, tắc mạch máu đặc biệt mạch máu ở não và mạch vành, gây tai biến biến, suy tim về sau.
"Phần nhiều bệnh nhân phát hiện ra bệnh khi đã có biến chứng. Có trường hợp hoàn toàn không có triệu chứng gì, nhưng khi vào viện thì đã liệt nửa người, tai biến, nhập viện trong tình trạng cấp cứu", bác sĩ Hiếu nói.
Trong khi đó, cũng theo bác sĩ, nếu phát hiện sớm, có người chỉ cần chỉnh chế độ ăn, là tỷ lệ mỡ trong máu gần như trở lại bình thường. Trường hợp không đáp ứng được thì dùng thuốc điều chỉnh. Đây là cả một quá trình lâu dài, vì còn tùy thuộc vào độ nhạy của thuốc, kiêng khem của từng người và không có một liều nhất định.
Người mắc bệnh cần có chế độ ăn uống và tập thể dục hợp lý, giảm ăn mỡ, phủ tạng động vật, đồ chiên rán, hạn chế rượu bia, uống nhiều nước.
Phương Trang
Cao 1m63, nặng 45 kg, chị Như thuộc dạng mình hạc xương mai. Lúc nào chị cũng nghĩ người gày cũng có lợi thế của nó là không lo sợ mắc mấy bệnh do béo phì kiểu như gan nhiễm mỡ, tiểu đường, tăng huyết áp... Thế nên khi biết bệnh, chị không tin, tưởng bác sĩ trả nhầm kết quả.
"Người mình gày đét, có chỗ mỡ thừa nào đâu mà có mỡ trong máu. Nhưng nghĩ lại trước đây đã có lần mình thấy hoa mắt, chóng mặt, bác sĩ bảo có thể do mỡ trong máu cao dẫn đến tăng huyết áp. Lúc đó mình chỉ nghĩ đơn giản làm việc nhiều nên mệt thôi", chị Như nói.
Cũng giống như chị Như, rất nhiều người Việt Nam vẫn cho rằng người gày thì không bao giờ bị mỡ máu cao. Đây là một quan niệm sai lầm. Gày và mỡ trong máu là hai thông số độc lập với nhau, bác sĩ Ngô Chí Hiếu, Trưởng khoa Hồi sức, Bệnh viện Tim Hà Nội cho biết.
"Đúng là trong số những người bị béo phì thì tỷ lệ bị máu nhiễm mỡ cao hơn rất nhiều. Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là người gày không mắc bệnh này", bác sĩ Hiếu nói.
Theo bác sĩ, máu nhiễm mỡ là từ mà nhiều người dân hay dùng, y học gọi là rối loạn lipid máu hay mỡ máu cao. Bình thường trong máu có một tỷ lệ mỡ nhất định, được đánh giá bằng chỉ số xét nghiệm cholesterol, triglycerid... Nếu các chỉ số này cao hơn mức cho phép thì gọi là mỡ máu cao. Trong đó, cholesterol cao là chỉ số đặc trưng của bệnh.
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến bệnh: di truyền, yếu tố gia đình, chế độ ăn, sinh hoạt không hợp lý, như ăn quá nhiều thịt chó, phủ tạng động vật, tiết canh, hải sản..., uống nhiều rượu bia, dẫn đến rối loạn chuyển hóa mỡ.
Biểu hiện bệnh ở người trẻ thường thầm kín, hầu như không có triệu chứng. Nhiều người chỉ vô tình phát hiện ra bệnh khi khám sức khỏe định kỳ hoặc thấy huyết áp cao, đau đầu thì đi làm thêm xét nghiệm máu thì đã thấy bị mỡ máu cao. Ở người già thì biểu hiện rõ ràng hơn, có đến 90% là tăng huyết áp, đái tháo đường đi kèm với tăng mỡ máu, bác sĩ Hiếu cho biết.
Bệnh nguy hiểm ở chỗ nếu không điều trị về lâu dài sẽ có thể dẫn đến nhiều biến chứng như: xơ, dày thành mạch máu, làm tăng huyết áp, tắc mạch máu đặc biệt mạch máu ở não và mạch vành, gây tai biến biến, suy tim về sau.
"Phần nhiều bệnh nhân phát hiện ra bệnh khi đã có biến chứng. Có trường hợp hoàn toàn không có triệu chứng gì, nhưng khi vào viện thì đã liệt nửa người, tai biến, nhập viện trong tình trạng cấp cứu", bác sĩ Hiếu nói.
Trong khi đó, cũng theo bác sĩ, nếu phát hiện sớm, có người chỉ cần chỉnh chế độ ăn, là tỷ lệ mỡ trong máu gần như trở lại bình thường. Trường hợp không đáp ứng được thì dùng thuốc điều chỉnh. Đây là cả một quá trình lâu dài, vì còn tùy thuộc vào độ nhạy của thuốc, kiêng khem của từng người và không có một liều nhất định.
Người mắc bệnh cần có chế độ ăn uống và tập thể dục hợp lý, giảm ăn mỡ, phủ tạng động vật, đồ chiên rán, hạn chế rượu bia, uống nhiều nước.
Phương Trang
Monday, June 27, 2011
Vì sao người béo nên ăn nhạt?
Hỏi: Tại sao người béo không nên ăn mặn? Mỗi ngày người béo nên ăn bao nhiêu muối là đủ? (Hà Thanh Trang, phố Láng Hạ, Hà Nội)
Bà Lê Thị Hải, Viện Dinh dưỡng Quốc gia cho biết: Muối là thành phần quan trọng có tác dụng duy trì sự cân bằng trong cơ thể, tuy nhiên, người béo không nên ăn mặn để tránh nguy cơ gây cao huyết áp. Trong muối có chứa natri, chất này có đặc tính giữ nước. Khi khối lượng lớn natri và nước đi vào trong máu, khiến lượng máu tăng lên, các thành mạch phồng lên, sẽ gây tăng huyết áp.
Vì vậy, người béo cần kiểm soát lượng muối hấp thu hằng ngày, duy trì ở mức 5 - 8g mỗi ngày là phù hợp, người bình thường cũng chỉ nên tiêu thụ tối đa 10g muối mỗi ngày.
Theo Bee.net.vn
Bà Lê Thị Hải, Viện Dinh dưỡng Quốc gia cho biết: Muối là thành phần quan trọng có tác dụng duy trì sự cân bằng trong cơ thể, tuy nhiên, người béo không nên ăn mặn để tránh nguy cơ gây cao huyết áp. Trong muối có chứa natri, chất này có đặc tính giữ nước. Khi khối lượng lớn natri và nước đi vào trong máu, khiến lượng máu tăng lên, các thành mạch phồng lên, sẽ gây tăng huyết áp.
Vì vậy, người béo cần kiểm soát lượng muối hấp thu hằng ngày, duy trì ở mức 5 - 8g mỗi ngày là phù hợp, người bình thường cũng chỉ nên tiêu thụ tối đa 10g muối mỗi ngày.
Theo Bee.net.vn
Wednesday, May 25, 2011
Cà tím trị tăng huyết áp
Cà có thể bung, luộc, nướng, xào, nấu, trộn... chung với các thứ khác mà không hề bị giảm chất lượng thực phẩm của nó.
Cà tím trị tăng huyết áp
Cà tím còn có tên cà dái dê, cà tím dài, cà dê. Không lẫn cà pháo cà dừa, cà bát vỏ tím. Tên Hán gọi cà với tên chung là Nuy qua. Tên khoa học: Solanum melongema, họ cà.
Trong các loại cà đặc biệt là cà tím dài là thực phẩm có từ 2000 năm trước Công nguyên ở nhiều vùng nhiệt đới Á Phi, nó được ưa chuộng vì chứa nhiều vitamin và ít calo. Cà có thể bung, luộc, nướng, xào, nấu, trộn... chung với các thứ khác mà không hề bị giảm chất lượng thực phẩm của nó.
Cà tím được dùng làm thức ăn phòng chữa bệnh nếu là quả chín tới.
Theo Đông y cà tím đã được ghi trong bản thảo cương mục và các y văn cổ có tính năng cực hàn, thanh can, giáng hoả, lợi tiểu, nhuận tràng, chỉ huyết, hoá đàm, thanh nhiệt, giải độc.
Một số bài thuốc chữa bệnh có dùng cà tím:
Cà tím xào mã đề: Cà tím 200g, mã đề 15g, hành 10g, gừng 5g, tỏi 10, dầu mè, nước tương (xì dầu) một lượng thích hợp. Cà rửa sạch, cắt miếng, mã đề làm sạch; hành cắt khúc, gừng cắt lát; tỏi bỏ vỏ, cắt khô. Để chảo nóng đổ dầu vào, chờ dầu nóng bỏ gừng, hành vào phi thơm; rồi bỏ cà, mã đề vào trộn đều, bỏ muối và một ít nước vào xào chín là được. Mỗi ngày ăn một lần. Có tác dụng thanh nhiệt, giải độc, lợi tiểu, hạ áp huyết.
Canh gà, cà tím: Gà giò 1 con, cà tím 200g, sơn tra 15g, gừng 5g, hành 10g, dầu, muối một lượng thích hợp. Gà làm sạch, bỏ nội tạng; cà tím rửa sạch, cắt miếng, gừng cắt lát; hành cắt khúc. Để nồi nóng đổ dầu vào, cho gừng, hành vào phi thơm bỏ gà vào xào sơ. Tiếp đó, đổ nước vào, bỏ cà, sơn tra, muối vào, nấu sôi bằng lửa lớn, sau đó vặn lửa nhỏ nấu thêm chừng 30 phút là được. Mỗi ngày ăn một lần, dùng thay thức ăn. Có tác dụng tiêu thực tan ứ, giảm mỡ, hạ huyết áp.
Giảm huyết áp bằng các món chay: Nhiều món chay dùng cà tím. Ví dụ: Cà tím nhồi om - cà tím dài 3 quả nhỏ. Nhân thịt chay 300g, sốt cà chua 15ml, dầu vừng 2 thìa, gia vị. Cà thái dọc làm 2 nửa bỏ ruột, ngâm nước muối, vớt ra vắt nhẹ cho ráo. Nhồi nhân thịt chay đã trộn gia vị, rán vàng phía nhồi nhân, xếp vào xoong. Tiếp đó xào hành, bột mì và sốt cà chua để om.
Giúp bỏ thuốc lá: Các nhà khoa học thuộc Trường đại học Michigan (Mỹ) đã phát hiện trong cà tím cũng có nicotin và thấy trong thí nghiệm ăn 10g cà tím có hiệu quả tương tự như hút thuốc suốt 3 giờ. Vậy có lời khuyên khi thèm thuốc lá hãy ăn các món cà tím ngon lành mát bổ lại tránh được độc hại.
Phòng chữa xuất huyết đường tiêu hoá, hô hấp, tiết niệu: Ăn cà tím có nhiều vitamin P, C giúp làm vững chắc thành mạch chống chảy máu nói chung. Nếu được phối hợp với chanh, ngó sen, rau cần thì hiệu quả tăng cao, mạnh và nhanh hơn.
Chữa đái ra máu: Sắc quả cà tím cả cuống để uống.
Phòng chống ban tía ở người già: Ở tuổi 60 - 70 người già thường bị trên mặt, tay có tình trạng ứ huyết nổi ban tía hay từng chấm, có khi phải nhìn kỹ mới thấy. Để khắc phục bệnh lý này nên ăn cà tím. Cà tím lại mềm nên người già dễ ăn, dễ tiêu.
Viêm phế quản cấp: Cà tím 500g, gừng tươi 4 lát, tỏi 3 củ. Cà cắt dọc dài. Gừng thái lát, tỏi nghiền trộn nước tương, dầu, muối, đường. Chưng cách thuỷ. Có tác dụng thanh nhiệt hoá đàm nhiệt.
Viêm gan vàng da: Dùng mấy quả cà tím thái nhỏ trộn với gạo nấu thành món cơm - cà, ăn liên tục nhiều ngày.
Bảo vệ răng chắc, sạch, chống hôi miệng. Chế kem cà tím: Muối trộn cà tím với tỷ lệ 5 cà - 1 muối ngâm trong ít nhất 3 ngày với nước nóng xấp mặt, ép vỉ tre, để chỗ tối. Lấy cà ra để ráo nước phơi trong mát cho khô, bỏ vào chảo rang cháy, tán thành bột. Cất để dùng dần. Mỗi lần dùng lấy bàn chải nhúng ướt, dùng thìa sạch múc bột cà đổ lên bàn chải để đánh răng (kinh nghiệm của dân gian Nhật).
Người Mỹ dùng hỗn hợp cà muối chữa có hiệu quả các bệnh sâu răng, lợi viêm có mủ, bằng cách lấy tay sạch hoặc que bông tẩm bột chấm xát vào chỗ tổn thương. Để chữa bệnh này còn có thể chỉ dùng cuống của quả cà đốt tồn tính để chấm vào răng.
Bí đái: Dùng hạt sắc uống để lợi tiểu.
Táo bón: Dùng quả cà tím, hàng ngày lấy khoảng 100 - 200g nấu các món ăn đơn giản để ăn cùng cơm.
Kiêng kỵ: Theo sách cổ cà tím tính rất lạnh, không nên phối hợp với thức ăn lạnh khác mà còn nên thêm vài ba lát gừng để giảm tính lạnh. Người tạng hàn, hay đi ngoài lỏng khi cần dùng nên thận trọng hơn. Không nên dùng khi quả cà dập nát! Ăn càng tươi càng tốt.
Theo Afamily
Cà tím trị tăng huyết áp
Cà tím còn có tên cà dái dê, cà tím dài, cà dê. Không lẫn cà pháo cà dừa, cà bát vỏ tím. Tên Hán gọi cà với tên chung là Nuy qua. Tên khoa học: Solanum melongema, họ cà.
Trong các loại cà đặc biệt là cà tím dài là thực phẩm có từ 2000 năm trước Công nguyên ở nhiều vùng nhiệt đới Á Phi, nó được ưa chuộng vì chứa nhiều vitamin và ít calo. Cà có thể bung, luộc, nướng, xào, nấu, trộn... chung với các thứ khác mà không hề bị giảm chất lượng thực phẩm của nó.
Cà tím được dùng làm thức ăn phòng chữa bệnh nếu là quả chín tới.
Theo Đông y cà tím đã được ghi trong bản thảo cương mục và các y văn cổ có tính năng cực hàn, thanh can, giáng hoả, lợi tiểu, nhuận tràng, chỉ huyết, hoá đàm, thanh nhiệt, giải độc.
Một số bài thuốc chữa bệnh có dùng cà tím:
Cà tím xào mã đề: Cà tím 200g, mã đề 15g, hành 10g, gừng 5g, tỏi 10, dầu mè, nước tương (xì dầu) một lượng thích hợp. Cà rửa sạch, cắt miếng, mã đề làm sạch; hành cắt khúc, gừng cắt lát; tỏi bỏ vỏ, cắt khô. Để chảo nóng đổ dầu vào, chờ dầu nóng bỏ gừng, hành vào phi thơm; rồi bỏ cà, mã đề vào trộn đều, bỏ muối và một ít nước vào xào chín là được. Mỗi ngày ăn một lần. Có tác dụng thanh nhiệt, giải độc, lợi tiểu, hạ áp huyết.
Canh gà, cà tím: Gà giò 1 con, cà tím 200g, sơn tra 15g, gừng 5g, hành 10g, dầu, muối một lượng thích hợp. Gà làm sạch, bỏ nội tạng; cà tím rửa sạch, cắt miếng, gừng cắt lát; hành cắt khúc. Để nồi nóng đổ dầu vào, cho gừng, hành vào phi thơm bỏ gà vào xào sơ. Tiếp đó, đổ nước vào, bỏ cà, sơn tra, muối vào, nấu sôi bằng lửa lớn, sau đó vặn lửa nhỏ nấu thêm chừng 30 phút là được. Mỗi ngày ăn một lần, dùng thay thức ăn. Có tác dụng tiêu thực tan ứ, giảm mỡ, hạ huyết áp.
Giảm huyết áp bằng các món chay: Nhiều món chay dùng cà tím. Ví dụ: Cà tím nhồi om - cà tím dài 3 quả nhỏ. Nhân thịt chay 300g, sốt cà chua 15ml, dầu vừng 2 thìa, gia vị. Cà thái dọc làm 2 nửa bỏ ruột, ngâm nước muối, vớt ra vắt nhẹ cho ráo. Nhồi nhân thịt chay đã trộn gia vị, rán vàng phía nhồi nhân, xếp vào xoong. Tiếp đó xào hành, bột mì và sốt cà chua để om.
Giúp bỏ thuốc lá: Các nhà khoa học thuộc Trường đại học Michigan (Mỹ) đã phát hiện trong cà tím cũng có nicotin và thấy trong thí nghiệm ăn 10g cà tím có hiệu quả tương tự như hút thuốc suốt 3 giờ. Vậy có lời khuyên khi thèm thuốc lá hãy ăn các món cà tím ngon lành mát bổ lại tránh được độc hại.
Phòng chữa xuất huyết đường tiêu hoá, hô hấp, tiết niệu: Ăn cà tím có nhiều vitamin P, C giúp làm vững chắc thành mạch chống chảy máu nói chung. Nếu được phối hợp với chanh, ngó sen, rau cần thì hiệu quả tăng cao, mạnh và nhanh hơn.
Chữa đái ra máu: Sắc quả cà tím cả cuống để uống.
Phòng chống ban tía ở người già: Ở tuổi 60 - 70 người già thường bị trên mặt, tay có tình trạng ứ huyết nổi ban tía hay từng chấm, có khi phải nhìn kỹ mới thấy. Để khắc phục bệnh lý này nên ăn cà tím. Cà tím lại mềm nên người già dễ ăn, dễ tiêu.
Viêm phế quản cấp: Cà tím 500g, gừng tươi 4 lát, tỏi 3 củ. Cà cắt dọc dài. Gừng thái lát, tỏi nghiền trộn nước tương, dầu, muối, đường. Chưng cách thuỷ. Có tác dụng thanh nhiệt hoá đàm nhiệt.
Viêm gan vàng da: Dùng mấy quả cà tím thái nhỏ trộn với gạo nấu thành món cơm - cà, ăn liên tục nhiều ngày.
Bảo vệ răng chắc, sạch, chống hôi miệng. Chế kem cà tím: Muối trộn cà tím với tỷ lệ 5 cà - 1 muối ngâm trong ít nhất 3 ngày với nước nóng xấp mặt, ép vỉ tre, để chỗ tối. Lấy cà ra để ráo nước phơi trong mát cho khô, bỏ vào chảo rang cháy, tán thành bột. Cất để dùng dần. Mỗi lần dùng lấy bàn chải nhúng ướt, dùng thìa sạch múc bột cà đổ lên bàn chải để đánh răng (kinh nghiệm của dân gian Nhật).
Người Mỹ dùng hỗn hợp cà muối chữa có hiệu quả các bệnh sâu răng, lợi viêm có mủ, bằng cách lấy tay sạch hoặc que bông tẩm bột chấm xát vào chỗ tổn thương. Để chữa bệnh này còn có thể chỉ dùng cuống của quả cà đốt tồn tính để chấm vào răng.
Bí đái: Dùng hạt sắc uống để lợi tiểu.
Táo bón: Dùng quả cà tím, hàng ngày lấy khoảng 100 - 200g nấu các món ăn đơn giản để ăn cùng cơm.
Kiêng kỵ: Theo sách cổ cà tím tính rất lạnh, không nên phối hợp với thức ăn lạnh khác mà còn nên thêm vài ba lát gừng để giảm tính lạnh. Người tạng hàn, hay đi ngoài lỏng khi cần dùng nên thận trọng hơn. Không nên dùng khi quả cà dập nát! Ăn càng tươi càng tốt.
Theo Afamily
Giun đất và khả năng điều trị tăng huyết áp
Y văn gọi các vị thuốc từ giun đất là Địa long (Rồng đất). Trong các tác dụng của Địa long thì hỗ trợ hạ huyết áp được quan tâm nhiều nhất. Ngoài ra, vị thuốc từ giun đất còn giúp dự phòng tai biến mạch máu não.
Trong cuốn “Bản thảo cương mục” nổi tiếng của y học cổ truyền Trung Hoa, giun là nguyên liệu sản xuất 40 bài thuốc, điều trị nhiều loại bệnh.
Y học cổ truyền của nhiều nước, trong đó có Việt Nam, dùng giun đất điều trị các bệnh về huyết áp, tim mạch, thần kinh, hen suyễn, sốt rét... Nghiên cứu hiện đại cho thấy giun đất chứa chất Lumbriferin giúp thanh nhiệt, hạ sốt. Các thành phần đạm trong giun có tác dụng kháng Histamin, làm giãn khí quản. Điều này lý giải việc y học cổ truyền thường dùng Địa long để trị hen suyễn, viêm phế quản, khó thở. Nó cũng chứa hàm lượng rất cao axit Linoleic, cùng khoáng chất vi lượng chống oxy hóa Selen giúp tăng cường miễn dịch, nâng cao sức đề kháng trong cơ thể.
Ở Việt Nam, toa thuốc và tên bài thuốc sử dụng địa long chữa tai biến mạch máu não đã xuất hiện từ những năm đầu thế kỷ XX, được in lại trong cuốn sách “Hai trăm bài thuốc quý” của lương y Lê Văn Tình vào năm 1940. Sau này, bài thuốc đã được ông Nguyễn An Định, con trai của nhà văn hóa Nguyễn An Ninh cho phổ biến trên một số tờ báo. Bài thuốc cũng đã được bác sĩ Nguyễn Văn Hưởng, nguyên Bộ trưởng Y tế phổ biến để sử dụng trong đợt chống dịch sốt xuất huyết tại các tỉnh miền Bắc năm 1969.
Người bệnh bị tăng huyết áp, tai biến mạch máu não có thể do vỡ mạch (huyết áp tăng cao, áp lực lên mạch máu não quá lớn dẫn tới vỡ mạch máu não), hoặc tắc mạch (tăng huyết áp thúc đẩy sự xuất hiện mảng xơ vữa và cục máu đông làm bít tắc mạch máu nuôi dưỡng một phần não). Do đó, việc dự phòng tai biến mạch máu não cần kiểm soát huyết áp ở ngưỡng an toàn và hạn chế các yếu tố nguy cơ hình thành cục máu đông.
Dung dịch cồn của giun có tác dụng giảm huyết áp từ từ và ổn định huyết áp lâu dài. Nghiên cứu của các nhà khoa học Nhật Bản và Trung Quốc kết luận Enzyme Fibrinolytic trong giun đất có khả năng thủy phân mạnh mẽ, làm đứt các sợi Fibrin - tác nhân chính hình thành nên mảng xơ vữa và cục máu đông. Đây chính là cơ chế dùng Địa long giúp dự phòng tai biến mạch máu não do tắc mạch. Như vậy loài giun nào có hàm lượng Enzym Fibrinolytic càng cao thì tác dụng càng tốt.
Địa long hiện nay có trong viên uống thảo dược Hạ áp ích nhân. Đây là sản phẩm đầu tiên tại Việt Nam ứng dụng tác dụng quý của giun quế với người bệnh tăng huyết áp.
Theo nghiên cứu của PGS - TS Nguyễn Thị Ngọc Dao và cộng sự thuộc Viện khoa Học và Công nghệ Việt nam, loài giun quế - Peryonix Escavatu có chứa hàm lượng Emzyme Fibrinolytic cao hơn các loài giun khác. Từ lợi ích này, giun quế hiện nay được nuôi theo quy trình chuẩn tại các trang trại lớn, mang lại hiệu quả kinh tế cho người dân. Nhiều mô hình nuôi giun quế đã được phát triển tại khắp các tỉnh thành như: Sóc Sơn Hà Nội (trại giun PHT), Phú Hòa - Phú Yên (trại giun Thiên Phát), Đồng Nai, Bắc Giang...
Tác dụng của giun quế mở ra triển vọng lớn phát triển các bài thuốc từ Địa long cho người tăng huyết áp, vì hiện nay không nhiều chế phẩm vừa hạ huyết áp vừa dự phòng được tai biến mạch máu não.
Cao Quang
Nguồn: http://vnexpress.net/gl/doi-song/2011/04/giun-dat-va-kha-nang-dieu-tri-tang-huyet-ap/
Trong cuốn “Bản thảo cương mục” nổi tiếng của y học cổ truyền Trung Hoa, giun là nguyên liệu sản xuất 40 bài thuốc, điều trị nhiều loại bệnh.
Y học cổ truyền của nhiều nước, trong đó có Việt Nam, dùng giun đất điều trị các bệnh về huyết áp, tim mạch, thần kinh, hen suyễn, sốt rét... Nghiên cứu hiện đại cho thấy giun đất chứa chất Lumbriferin giúp thanh nhiệt, hạ sốt. Các thành phần đạm trong giun có tác dụng kháng Histamin, làm giãn khí quản. Điều này lý giải việc y học cổ truyền thường dùng Địa long để trị hen suyễn, viêm phế quản, khó thở. Nó cũng chứa hàm lượng rất cao axit Linoleic, cùng khoáng chất vi lượng chống oxy hóa Selen giúp tăng cường miễn dịch, nâng cao sức đề kháng trong cơ thể.
Ở Việt Nam, toa thuốc và tên bài thuốc sử dụng địa long chữa tai biến mạch máu não đã xuất hiện từ những năm đầu thế kỷ XX, được in lại trong cuốn sách “Hai trăm bài thuốc quý” của lương y Lê Văn Tình vào năm 1940. Sau này, bài thuốc đã được ông Nguyễn An Định, con trai của nhà văn hóa Nguyễn An Ninh cho phổ biến trên một số tờ báo. Bài thuốc cũng đã được bác sĩ Nguyễn Văn Hưởng, nguyên Bộ trưởng Y tế phổ biến để sử dụng trong đợt chống dịch sốt xuất huyết tại các tỉnh miền Bắc năm 1969.
Người bệnh bị tăng huyết áp, tai biến mạch máu não có thể do vỡ mạch (huyết áp tăng cao, áp lực lên mạch máu não quá lớn dẫn tới vỡ mạch máu não), hoặc tắc mạch (tăng huyết áp thúc đẩy sự xuất hiện mảng xơ vữa và cục máu đông làm bít tắc mạch máu nuôi dưỡng một phần não). Do đó, việc dự phòng tai biến mạch máu não cần kiểm soát huyết áp ở ngưỡng an toàn và hạn chế các yếu tố nguy cơ hình thành cục máu đông.
Dung dịch cồn của giun có tác dụng giảm huyết áp từ từ và ổn định huyết áp lâu dài. Nghiên cứu của các nhà khoa học Nhật Bản và Trung Quốc kết luận Enzyme Fibrinolytic trong giun đất có khả năng thủy phân mạnh mẽ, làm đứt các sợi Fibrin - tác nhân chính hình thành nên mảng xơ vữa và cục máu đông. Đây chính là cơ chế dùng Địa long giúp dự phòng tai biến mạch máu não do tắc mạch. Như vậy loài giun nào có hàm lượng Enzym Fibrinolytic càng cao thì tác dụng càng tốt.
Địa long hiện nay có trong viên uống thảo dược Hạ áp ích nhân. Đây là sản phẩm đầu tiên tại Việt Nam ứng dụng tác dụng quý của giun quế với người bệnh tăng huyết áp.
Theo nghiên cứu của PGS - TS Nguyễn Thị Ngọc Dao và cộng sự thuộc Viện khoa Học và Công nghệ Việt nam, loài giun quế - Peryonix Escavatu có chứa hàm lượng Emzyme Fibrinolytic cao hơn các loài giun khác. Từ lợi ích này, giun quế hiện nay được nuôi theo quy trình chuẩn tại các trang trại lớn, mang lại hiệu quả kinh tế cho người dân. Nhiều mô hình nuôi giun quế đã được phát triển tại khắp các tỉnh thành như: Sóc Sơn Hà Nội (trại giun PHT), Phú Hòa - Phú Yên (trại giun Thiên Phát), Đồng Nai, Bắc Giang...
Tác dụng của giun quế mở ra triển vọng lớn phát triển các bài thuốc từ Địa long cho người tăng huyết áp, vì hiện nay không nhiều chế phẩm vừa hạ huyết áp vừa dự phòng được tai biến mạch máu não.
Cao Quang
Nguồn: http://vnexpress.net/gl/doi-song/2011/04/giun-dat-va-kha-nang-dieu-tri-tang-huyet-ap/
Sex và tập thể dục có thể gây cơn đứng tim nếu không thường xuyên
Từ nhiều năm nay các chuyên gia đã nói với chúng ta rằng một phương cách để giảm bớt nguy cơ bệnh tim là tập thể dục. Giờ đây, một cuộc nghiên cứu mới cho biết nếu không tập thể dục đều đặn thì một hoạt động mạnh bất ngờ có thể gây ra cơn đau tim, thậm chí có thể làm chết người.
Chuyện nghe có vẻ như cảnh trong xi nê: một anh chàng ốm yếu, tướng người ẻo lả đã bị đứng tim khi cố chạy cho lẹ để bắt kịp một chuyến xe lửa, hoặc có thể chết trong khi làm tình.
Giờ đây, có một số bằng chứng khoa học xác minh cho câu chuyện xi nê đó.
Các nhà khảo cứu tại Trường Đại Học Tufts gần thành phố Boston đã tổng hợp kết quả của 14 cuộc nghiên cứu về liên hệ giữa hoạt động thể xác không đều đặn với cơn đứng tim và các loại bệnh tim khác.
Tập thể dục đều đặn có thể có lợi, nhưng đồng tác giả Jessica Paulus nói rằng, trong số những người hay ngồi một chỗ, nguy cơ này gia tăng trong ngắn hạn. Bà nói:
“Có một liên hệ giữa hoạt động thể xác không đều đặn và hoạt động tính dục về mặt rủi ro đứng tim và chết vì các biến cố bất ngờ về tim. Rủi ro này xảy ra vào một khoảnh khắc ngắn ngủi, từ một tới hai giờ sau khi tập thể dục và sau khi làm tình.”
Các nhà khảo cứu thấy rằng hoạt động thể xác không đều đặn có thể gặp nguy cơ đứng tim nhiều gấp ba lần, nhưng bởi vì một hoạt động mạnh bất ngờ thường ít xảy ra nơi những người ngồi nhiều vì công việc, nguy cơ gặp đứng tim khi chạy để bắt kịp chuyến xe lửa thật sự là nhỏ.
Trưởng ban nghiên cứu Issa Dahabreh nói hoạt động thể xác đều đặn có thể giảm bớt nguy cơ này:
“Những người tập thể dục đều đặn khi tham gia những hoạt động này, nói chung, ít khi gặp nguy cơ xảy ra cơn đứng tim.”
Ngay cả tập thể dục đều đặn, dù chỉ mỗi tuần một lần, cũng có thể giảm bớt đáng kể nguy cơ này. Các nhà khảo cứu thấy rằng nguy cơ xảy ra cơn đứng tim sụt giảm khoảng gần một nửa, và nguy cơ chết đột ngột sụt giảm khoảng một phần ba, cho mỗi lần tập thể dục hằng tuần.
Theo VOAnews 25/3/2011
Chuyện nghe có vẻ như cảnh trong xi nê: một anh chàng ốm yếu, tướng người ẻo lả đã bị đứng tim khi cố chạy cho lẹ để bắt kịp một chuyến xe lửa, hoặc có thể chết trong khi làm tình.
Giờ đây, có một số bằng chứng khoa học xác minh cho câu chuyện xi nê đó.
Các nhà khảo cứu tại Trường Đại Học Tufts gần thành phố Boston đã tổng hợp kết quả của 14 cuộc nghiên cứu về liên hệ giữa hoạt động thể xác không đều đặn với cơn đứng tim và các loại bệnh tim khác.
Tập thể dục đều đặn có thể có lợi, nhưng đồng tác giả Jessica Paulus nói rằng, trong số những người hay ngồi một chỗ, nguy cơ này gia tăng trong ngắn hạn. Bà nói:
“Có một liên hệ giữa hoạt động thể xác không đều đặn và hoạt động tính dục về mặt rủi ro đứng tim và chết vì các biến cố bất ngờ về tim. Rủi ro này xảy ra vào một khoảnh khắc ngắn ngủi, từ một tới hai giờ sau khi tập thể dục và sau khi làm tình.”
Các nhà khảo cứu thấy rằng hoạt động thể xác không đều đặn có thể gặp nguy cơ đứng tim nhiều gấp ba lần, nhưng bởi vì một hoạt động mạnh bất ngờ thường ít xảy ra nơi những người ngồi nhiều vì công việc, nguy cơ gặp đứng tim khi chạy để bắt kịp chuyến xe lửa thật sự là nhỏ.
Trưởng ban nghiên cứu Issa Dahabreh nói hoạt động thể xác đều đặn có thể giảm bớt nguy cơ này:
“Những người tập thể dục đều đặn khi tham gia những hoạt động này, nói chung, ít khi gặp nguy cơ xảy ra cơn đứng tim.”
Ngay cả tập thể dục đều đặn, dù chỉ mỗi tuần một lần, cũng có thể giảm bớt đáng kể nguy cơ này. Các nhà khảo cứu thấy rằng nguy cơ xảy ra cơn đứng tim sụt giảm khoảng gần một nửa, và nguy cơ chết đột ngột sụt giảm khoảng một phần ba, cho mỗi lần tập thể dục hằng tuần.
Theo VOAnews 25/3/2011
Bí quyết làm hạ huyết áp cao
Phương pháp thở làm hạ áp huyết sau 5 phút
Cách tập thở và dụng cụ cần thiết trong khi tập:
Chúng ta cần một máy đo áp huyết (hiệu microlife tiện lợi hơn), một cây đèn cầy (nến).
Quý vị ngồi vào bàn, đặt đèn cầy được thắp sáng, cách 60 cm. Dùng máy đo áp huyết bên tay trái, đo áp huyết trước khi tập thở (thí dụ áp huyết đo được 185/120 mmHg). Tắt máy và giữ nguyên máy đo ở tay. Hai tay đặt trên bàn tự nhiên, người ngồi trong tư thế thoải mái. Tưởng tượng cây đèn cầy đang cắm trên bánh sinh nhật trong một bữa tiệc mà mọi người khách đang ngồi xung quanh. Chúng ta thở hơi ra đều đặn, đủ để thổi cho ngọn lửa đèn cầy lung lay liên tục như gặp gió nhưng không tắt và tập hơi thở làm sao không cố sức, bụng không gò cứng, không nâng ngực, nâng vai, nhất là không cho mọi người biết là mình đang thổi ngọn đèn cầy. Khi thổi vào ngọn đèn cầy khoảng 6-10 hơi, thì bắt đầu bấm máy đo áp huyết, rồi vẫn tiếp tục thổi hơi ra đều đều cho đến khi máy ngưng, xem áp huyết xuống được bao nhiêu, nếu thở đúng, áp huyết sẽ xuống ngay (thí dụ 120/70 mmHg), thở chưa đúng lắm, áp huyết xuống chậm (thí dụ 170/100 mmHg hoặc 160/100 mmHg) .
Nếu cứ tiếp tục thở như trên, có thể áp huyết xuống thấp nhất dưới 100/60 mmHg, nhưng có một điều lạ, chỉ hơi choáng váng, rồi không cần tập thở nữa, đo lại áp huyết sẽ giữ ở mức trung bình, thí dụ như 120/75 mmHg chẳng hạn, nó không bị nguy hiểm giống như trường hợp uống thuốc bị tụt áp huyết làm mệt, chóng mặt xây xẩm.
Tập thở theo phương pháp Khí công y đạo. Ảnh: IT
Đã có người hỏi tôi rằng, áp huyết được ổn định bao lâu, nếu không uống thuốc áp huyết lên lại thì sao ? Để tránh tình trạng áp huyết lên trở lại, chúng ta không cần phải tập một ngày 2-3 lần với máy đo, với đèn cầy nữa, mà khi đi, đứng, nằm, ngồi, làm việc, bất cứ lúc nào, bất cứ ở đâu, thay vì khi vui vẻ, chúng ta huýt sáo, thì chúng ta tập thổi hơi ra suốt ngày, đó là cách tập thở khí công, chứ không cần phải đợi khi áp huyết lên cao mới tập thở. Được như thế, áp huyết lúc nào cũng ổn định, tránh được bệnh căng thẳng thần kinh (stress), nhức đầu, chóng mặt, đi lảo đảo, đau nhức chân tay, đau cổ gáy vai, mất ngủ, ăn uống không tiêu, táo bón. Cuối cùng, cũng xin quý vị nên tham khảo với bác sĩ gia đình của mình để xem có cần uống thuốc hay thay đổi liều thuốc để tránh bị phản ứng phụ của thuốc.
Nguồn gốc của phương pháp làm hạ áp huyết sau 5 phút, được rút ra từ kinh nghiệm văn hóa cổ truyền Việt Nam.
Khi những người dân quê thổi bếp lửa để nấu cơm, họ nhóm lửa và thổi lửa làm sao cho ngọn lửa mau cháy nhanh và thổi 20-30 hơi không bị mệt, đó chính là cách làm hạ áp huyết, cho nên họ không bao giờ bị bệnh cao áp huyết. Nếu quý vị không biết tập thổi ngọn đèn cầy, quý vị thử thổi mạnh 20-30 hơi như những người thổi bếp lửa thì áp huyết cũng xuống dưới mức bình thường ngay, nhưng sau đó nhịp tim sẽ đập rất mạnh trên 100, xuất mồ hôi trán và xây xẩm, còn tập thở khí công là một phương pháp luyện hơi thở nhẹ nhàng đều đặn, tăng cường sức khỏe, tăng hồng cầu và sức đề kháng của cơ thể.
Đây là một món qùa của Khí công y đạo Việt Nam dành cho người bị bệnh cao huyết áp trên toàn thế giới, chúc quý vị tập luyện có kết quả, và không còn sợ hãi bị bệnh cao áp huyết nữa.
Thực đơn cho người bị cao huyết áp
Khi bị cao huyết áp, ngoài thuốc ra, việc lựa chọn và duy trì một chế độ ăn uống khôn ngoan và thích hợp có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Tuy nhiên, bên cạnh vấn đề tuân thủ những nguyên tắc chung như ăn nhạt, hạn chế mỡ động vật, kiêng các chất kích thích, người bệnh tỏ ra lúng túng khi chọn các đồ ăn thức uống hằng ngày.
Một số thực phẩm thích hợp và có lợi cho việc phòng chống cao huyết áp.
Cần tây: Có tên khoa học là Apium graveolens L., dùng thứ càng tươi càng tốt, rửa thật sạch, giã nát rồi ép lấy nước (nếu có máy ép thì càng tốt), chế thêm một chút mật ong, mỗi ngày uống 3 lần, mỗi lần 40ml. Nghiên cứu hiện đại cho thấy, nước ép cần tây có tác dụng làm giãn mạch, lợi niệu và hạ huyết áp. Cần chú ý tránh nhầm lẫn với loại cần ta thường dùng làm rau ăn hàng ngày, có tên khoa học là Oenanthe stolinefera Wall.
Cải cúc: Là loại rau thông dụng, có hương thơm đặc biệt, chứa nhiều a-xít a-min và tinh dầu, có tác dụng làm thanh sáng đầu óc và giảm áp. Nên dùng làm rau ăn hằng ngày hoặc ép lấy nước cốt uống, mỗi ngày chừng 50ml, chia 2 lần sáng, chiều. Đặc biệt thích hợp với những người bị cao huyết áp có kèm theo đau và nặng đầu.
Rau muống: Còn gọi là ung thái, không tâm thái, đằng đằng thái..., chứa nhiều canxi, rất có lợi cho việc duy trì áp lực thẩm thấu của thành mạch và huyết áp trong giới hạn bình thường, là thứ rau đặc biệt thích hợp cho những người bị cao huyết áp có kèm theo triệu chứng đau đầu.
Măng lau: Có công dụng hoạt huyết, thông tràng vị, khai hung cách (làm thoải mái lồng ngực) và chống phiền khát. Nghiên cứu hiện đại cho thấy, măng lau có khả năng tiêu trừ mệt mỏi, tăng cường thể lực, làm giãn mạch, cường tim, lợi niệu, giảm áp và phòng chống ung thư, là thức ăn rất thích hợp cho người bị cao huyết áp và xơ vữa động mạch.
Cà chua: Có công dụng thanh nhiệt giải độc, lương huyết bình can và giáng áp. Là thực phẩm rất giàu vi-ta-min C và P, nếu ăn thường xuyên mỗi ngày 1- 2 quả cà chua sống sẽ có khả năng phòng chống cao huyết áp rất tốt, đặc biệt là khi có biến chứng xuất huyết đáy mắt.
Cà: Đặc biệt cà tím là thực phẩm rất giàu vi-ta-min P, giúp cho thành mạch máu được mềm mại, dự phòng tích cực tình trạng rối loạn vi tuần hoàn hay gặp ở những người bị cao huyết áp và các bệnh lí tim mạch khác.
Cà rốt: Có tác dụng làm mềm thành mạch, điều chỉnh rối loạn li-pít máu và ổn định huyết áp. Nên dùng dạng tươi, rửa sạch, ép lấy nước uống mỗi ngày 2 lần, mỗi lần chừng 50ml. Đây là thứ nước giải khát đặc biệt tốt cho những người bị cao huyết áp có kèm theo tình trạng đau đầu, chóng mặt.
Hành tây: Trong thành phần không chứa chất béo, có khả năng làm giảm sức cản ngoại vi, đối kháng với tác dụng làm tăng huyết áp của Catecholamine, duy trì sự ổn định của quá trình bài tiết muối nat-ri trong cơ thể nên làm giảm huyết áp. Ngoài ra, vỏ hành tây còn chứa nhiều ru-tin rất có lợi cho việc làm vững bền thành mạch, dự phòng tai biến xuất huyết não.
Nấm hương và nấm rơm: Là những thực phẩm giàu chất dinh dưỡng nhưng lại có khả năng phòng chống xơ vữa động mạch và hạ huyết áp, rất thích hợp cho những người bị cao huyết áp vào mùa Hè Thu.
Mộc nhĩ: Mộc nhĩ đen hay mộc nhĩ trắng đều là những thực phẩm rất có lợi cho người bị cao huyết áp. Hằng ngày có thể dùng mộc nhĩ trắng 10g hoặc mộc nhĩ đen 6g, đem nấu nhừ rồi chế thêm 10g đường phèn ăn trong ngày. Khi có biến chứng xuất huyết đáy mắt thì đây là loại thức ăn lí tưởng.
Tỏi: Có công dụng hạ mỡ máu và hạ huyết áp. Hằng ngày nếu kiên trì ăn đều đặn 2 tép tỏi sống hoặc đã ngâm giấm, hay uống 5ml giấm ngâm tỏi thì có thể duy trì huyết áp ổn định ở mức bình thường.
Lạc: Có công dụng hạ mỡ máu và giáng áp. Kinh nghiệm dân gian Trung Quốc dùng lạc ngâm với giấm ăn, sau chừng 5 ngày thì dùng được, mỗi ngày ăn 2 lần, mỗi lần 10 hạt.
Hải tảo, hải đới và tảo đỏ: Đều là những thực phẩm ở biển, có công dụng phòng chống xơ vữa động mạch và hạ huyết áp. Có thể dùng phối hợp cả ba thứ cùng một lúc hoặc thay thế nhau.
Đậu Hà Lan và đậu xanh: Là hai loại thực phẩm rất có lợi cho người bị cao huyết áp. Hằng ngày nên dùng giá đậu Hà Lan một nắm rửa sạch rồi ép lấy nước uống hoặc dùng làm rau ăn thường xuyên. Kinh nghiệm dân gian thường dùng đậu xanh hầm với hải đới ăn hoặc đậu xanh và vừng đen sao thơm, tán bột ăn mỗi ngày 2 lần, mỗi lần 50g để phòng chống cao huyết áp.
Sữa đậu nành: Là đồ uống lí tưởng cho người bị cao huyết áp, có công dụng phòng chống xơ vữa động mạch, điều chỉnh rối loạn li-pít máu và giáng áp. Mỗi ngày nên dùng 1.000ml sữa đậu nành pha với 100g đường trắng, chia uống vài lần trong ngày.
Táo: Loại táo to nhập từ Trung Quốc và các nước châu Âu, chứa nhiều Kali có thể kết hợp với lượng nát-ri dư thừa để đào thải ra bên ngoài, giúp cho cơ thể duy trì huyết áp ở mức bình thường. Mỗi ngày nên ăn 3 quả hoặc ép lấy nước uống 3 lần, mỗi lần chừng 50ml.
Lê: Có công dụng thanh nhiệt, trấn tĩnh và giáng áp, rất có lợi cho những người bị cao huyết áp có kèm theo chứng đau đầu, chóng mặt, ù tai, hay hồi hộp trống ngực. Mỗi ngày nên ăn đều đặn từ 1- 2 quả hoặc ép lấy nước cốt uống.
Chuối tiêu: Có công dụng thanh nhiệt, lợi niệu, thông tiện và giáng áp. Mỗi ngày nên ăn từ 1-2 quả, hoặc dùng vỏ quả chuối tiêu tươi 30-60g sắc uống thay trà.
Dưa hấu: Rất thích hợp cho người bị cao huyết áp vào mùa Hè vì có tác dụng thanh nhiệt và lợi niệu khá tốt, từ đó giúp cho huyết áp được ổn định. Người ta còn dùng vỏ dưa hấu 12g và thảo quyết minh (hạt muồng) 12g sắc uống thay trà hằng ngày, hoặc ăn hạt dưa hấu mỗi ngày từ 9-15g để làm hạ huyết áp.
Dưa chuột: Chứa nhiều muối Ka-li, có tác dụng thanh nhiệt, giải thử, lợi niệu và giáng áp, rất thích hợp cho người bị cao huyết áp về mùa hè. Nên dùng dưới dạng ăn sống hoặc chế thành dưa góp nhưng chú ý không cho quá nhiều muối.
Nho: Rất tốt cho người bị cao huyết áp, kể cả nho tươi hoặc nho khô, vì trong thành phần có chứa nhiều muối Ka-li nên có công dụng giảm áp, lợi niệu và bù đắp lượng Ka-li mất đi do dùng các thuốc lợi tiểu Tây y.
Mã thầy: Mỗi ngày dùng 60-120g rửa sạch, ép lấy nước, chia uống 3 lần trong ngày hoặc dùng 120g sắc cùng với hải đới 60g và hải tảo 60g, uống thay trà trong ngày.
Ngoài ra, người bị cao huyết áp nên dùng một số thực phẩm khác như ngô (đặc biệt là trà râu ngô), vừng, hạt sen, ngó sen, củ cải, đậu tương, cải xanh, bắp cải, dầu thực vật, trà tâm sen, trà hoa hòe, trà thảo quyết minh, trà cúc hoa, trà bạch cúc, trà kỉ tử, mật ong... Không hoặc hạn chế dùng một số thực phẩm như lòng đỏ trứng, não động vật, gan dê, thịt chim sẻ, thịt dê, thịt chó, thận lợn, mỡ động vật, rượu trắng, dưa hoặc cà muối mặn, thuốc lá, cà-phê, trà đặc, hạt tiêu, ớt, gừng...
BS. Phạm Thị Tuyết Nhung
Người tăng huyết áp cần chú ý đến chế độ ăn có ka-li cao, nát-tri thấp, ít năng lượng, li-pít thấp, cô-lét-xtê-rôn thấp và vi-ta-min phong phú.
Các loại đậu, ngô, khoai tây, khoai sọ, chuối tiêu chứa nhiều ka-li, ít nát-tri nên ưu tiên sử dụng. Ma-giê cũng có tác dụng giảm huyết áp, nên đưa vào bữa ăn các thức ăn có chứa ma-giê như giá đỗ, nấm hương, đậu khô và đậu tươi, rau giền, rau chân vịt, các loại hải sản. Ca-đi-mi là chất làm tăng huyết áp, trong khi kẽm giảm tác dụng của ca-đi-mi. Vì vậy nên tăng lượng thức ăn có tỉ lệ kẽm/ca-đi-mi cao. Nguồn thức ăn chứa nhiều kẽm là hải sản, thịt gia cầm (nói chung các loại thịt), trong đó hàu là hải sản có nhiều kẽm nhất (có khi đạt đến1g/kg). Thực vật chứa ít kẽm và bị hao tổn nhiều trong quá trình chế biến. Can-xi là chất hạn chế tác dụng của na-tri, nên đưa vào cơ thể số lượng thoả đáng. Nguồn can-xi là sữa và các chế phẩm từ sữa. Ngoài ra, các loại đậu, tôm nõn, vừng, rong biển cũng chứa nhiều can-xi.
Theo nghiên cứu mới đây prô-tê-in trong các loại cá có tác dụng giảm huyết áp và phòng ngừa đột quỵ. Prô-tê-in trong đậu nành cũng có tác dụng phòng đột guỵ. Vì vậy, người tăng huyết áp nên ăn cá, đậu nành và các chế phẩm từ đậu nành. Prô-tê-in có nhiều trong thịt nhưng cần hạn chế ăn thịt chỉ nên dùng ở mức 1g/kg trọng lượng cơ thể là vừa. Người nặng 50 kg chỉ dùng nửa lạng thịt mỗi ngày và nên dùng thịt có mầu trắng (thịt gà, vịt...), bớt loại thịt mầu đỏ (thịt bò, trâu...). Ngoài ra, người tăng huyết áp nên tránh các loại thịt gia cầm non, các phủ tạng gia súc, gia cầm, tránh dùng các chất kích thích như rượu, cà phê, thuốc lá, nước trà đặc. Cùng với việc điều chỉnh chể độ ăn uống thích hợp, người tăng huyết áp nên tăng cường vận động vừa sức. Vận động quá sức sẽ làm tim mệt. Người tăng huyết áp không nên tập những môn thể thao nặng như tập tạ, đi cầu thang, chỉ nên đi bộ hằng ngày và tham gia những môn thể dục nhẹ và tập thiền có tác dụng giảm huyết áp khá rõ rệt. người bị tăng huyết áp nên tham gia tập đều đặn sẽ duy trì huyết áp ổn định lâu dài.
BS. Phạm Bình
Theo nguoicaotuoi.org.vn
Cách tập thở và dụng cụ cần thiết trong khi tập:
Chúng ta cần một máy đo áp huyết (hiệu microlife tiện lợi hơn), một cây đèn cầy (nến).
Quý vị ngồi vào bàn, đặt đèn cầy được thắp sáng, cách 60 cm. Dùng máy đo áp huyết bên tay trái, đo áp huyết trước khi tập thở (thí dụ áp huyết đo được 185/120 mmHg). Tắt máy và giữ nguyên máy đo ở tay. Hai tay đặt trên bàn tự nhiên, người ngồi trong tư thế thoải mái. Tưởng tượng cây đèn cầy đang cắm trên bánh sinh nhật trong một bữa tiệc mà mọi người khách đang ngồi xung quanh. Chúng ta thở hơi ra đều đặn, đủ để thổi cho ngọn lửa đèn cầy lung lay liên tục như gặp gió nhưng không tắt và tập hơi thở làm sao không cố sức, bụng không gò cứng, không nâng ngực, nâng vai, nhất là không cho mọi người biết là mình đang thổi ngọn đèn cầy. Khi thổi vào ngọn đèn cầy khoảng 6-10 hơi, thì bắt đầu bấm máy đo áp huyết, rồi vẫn tiếp tục thổi hơi ra đều đều cho đến khi máy ngưng, xem áp huyết xuống được bao nhiêu, nếu thở đúng, áp huyết sẽ xuống ngay (thí dụ 120/70 mmHg), thở chưa đúng lắm, áp huyết xuống chậm (thí dụ 170/100 mmHg hoặc 160/100 mmHg) .
Nếu cứ tiếp tục thở như trên, có thể áp huyết xuống thấp nhất dưới 100/60 mmHg, nhưng có một điều lạ, chỉ hơi choáng váng, rồi không cần tập thở nữa, đo lại áp huyết sẽ giữ ở mức trung bình, thí dụ như 120/75 mmHg chẳng hạn, nó không bị nguy hiểm giống như trường hợp uống thuốc bị tụt áp huyết làm mệt, chóng mặt xây xẩm.
Tập thở theo phương pháp Khí công y đạo. Ảnh: IT
Đã có người hỏi tôi rằng, áp huyết được ổn định bao lâu, nếu không uống thuốc áp huyết lên lại thì sao ? Để tránh tình trạng áp huyết lên trở lại, chúng ta không cần phải tập một ngày 2-3 lần với máy đo, với đèn cầy nữa, mà khi đi, đứng, nằm, ngồi, làm việc, bất cứ lúc nào, bất cứ ở đâu, thay vì khi vui vẻ, chúng ta huýt sáo, thì chúng ta tập thổi hơi ra suốt ngày, đó là cách tập thở khí công, chứ không cần phải đợi khi áp huyết lên cao mới tập thở. Được như thế, áp huyết lúc nào cũng ổn định, tránh được bệnh căng thẳng thần kinh (stress), nhức đầu, chóng mặt, đi lảo đảo, đau nhức chân tay, đau cổ gáy vai, mất ngủ, ăn uống không tiêu, táo bón. Cuối cùng, cũng xin quý vị nên tham khảo với bác sĩ gia đình của mình để xem có cần uống thuốc hay thay đổi liều thuốc để tránh bị phản ứng phụ của thuốc.
Nguồn gốc của phương pháp làm hạ áp huyết sau 5 phút, được rút ra từ kinh nghiệm văn hóa cổ truyền Việt Nam.
Khi những người dân quê thổi bếp lửa để nấu cơm, họ nhóm lửa và thổi lửa làm sao cho ngọn lửa mau cháy nhanh và thổi 20-30 hơi không bị mệt, đó chính là cách làm hạ áp huyết, cho nên họ không bao giờ bị bệnh cao áp huyết. Nếu quý vị không biết tập thổi ngọn đèn cầy, quý vị thử thổi mạnh 20-30 hơi như những người thổi bếp lửa thì áp huyết cũng xuống dưới mức bình thường ngay, nhưng sau đó nhịp tim sẽ đập rất mạnh trên 100, xuất mồ hôi trán và xây xẩm, còn tập thở khí công là một phương pháp luyện hơi thở nhẹ nhàng đều đặn, tăng cường sức khỏe, tăng hồng cầu và sức đề kháng của cơ thể.
Đây là một món qùa của Khí công y đạo Việt Nam dành cho người bị bệnh cao huyết áp trên toàn thế giới, chúc quý vị tập luyện có kết quả, và không còn sợ hãi bị bệnh cao áp huyết nữa.
Thực đơn cho người bị cao huyết áp
Khi bị cao huyết áp, ngoài thuốc ra, việc lựa chọn và duy trì một chế độ ăn uống khôn ngoan và thích hợp có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Tuy nhiên, bên cạnh vấn đề tuân thủ những nguyên tắc chung như ăn nhạt, hạn chế mỡ động vật, kiêng các chất kích thích, người bệnh tỏ ra lúng túng khi chọn các đồ ăn thức uống hằng ngày.
Một số thực phẩm thích hợp và có lợi cho việc phòng chống cao huyết áp.
Cần tây: Có tên khoa học là Apium graveolens L., dùng thứ càng tươi càng tốt, rửa thật sạch, giã nát rồi ép lấy nước (nếu có máy ép thì càng tốt), chế thêm một chút mật ong, mỗi ngày uống 3 lần, mỗi lần 40ml. Nghiên cứu hiện đại cho thấy, nước ép cần tây có tác dụng làm giãn mạch, lợi niệu và hạ huyết áp. Cần chú ý tránh nhầm lẫn với loại cần ta thường dùng làm rau ăn hàng ngày, có tên khoa học là Oenanthe stolinefera Wall.
Cải cúc: Là loại rau thông dụng, có hương thơm đặc biệt, chứa nhiều a-xít a-min và tinh dầu, có tác dụng làm thanh sáng đầu óc và giảm áp. Nên dùng làm rau ăn hằng ngày hoặc ép lấy nước cốt uống, mỗi ngày chừng 50ml, chia 2 lần sáng, chiều. Đặc biệt thích hợp với những người bị cao huyết áp có kèm theo đau và nặng đầu.
Rau muống: Còn gọi là ung thái, không tâm thái, đằng đằng thái..., chứa nhiều canxi, rất có lợi cho việc duy trì áp lực thẩm thấu của thành mạch và huyết áp trong giới hạn bình thường, là thứ rau đặc biệt thích hợp cho những người bị cao huyết áp có kèm theo triệu chứng đau đầu.
Măng lau: Có công dụng hoạt huyết, thông tràng vị, khai hung cách (làm thoải mái lồng ngực) và chống phiền khát. Nghiên cứu hiện đại cho thấy, măng lau có khả năng tiêu trừ mệt mỏi, tăng cường thể lực, làm giãn mạch, cường tim, lợi niệu, giảm áp và phòng chống ung thư, là thức ăn rất thích hợp cho người bị cao huyết áp và xơ vữa động mạch.
Cà chua: Có công dụng thanh nhiệt giải độc, lương huyết bình can và giáng áp. Là thực phẩm rất giàu vi-ta-min C và P, nếu ăn thường xuyên mỗi ngày 1- 2 quả cà chua sống sẽ có khả năng phòng chống cao huyết áp rất tốt, đặc biệt là khi có biến chứng xuất huyết đáy mắt.
Cà: Đặc biệt cà tím là thực phẩm rất giàu vi-ta-min P, giúp cho thành mạch máu được mềm mại, dự phòng tích cực tình trạng rối loạn vi tuần hoàn hay gặp ở những người bị cao huyết áp và các bệnh lí tim mạch khác.
Cà rốt: Có tác dụng làm mềm thành mạch, điều chỉnh rối loạn li-pít máu và ổn định huyết áp. Nên dùng dạng tươi, rửa sạch, ép lấy nước uống mỗi ngày 2 lần, mỗi lần chừng 50ml. Đây là thứ nước giải khát đặc biệt tốt cho những người bị cao huyết áp có kèm theo tình trạng đau đầu, chóng mặt.
Hành tây: Trong thành phần không chứa chất béo, có khả năng làm giảm sức cản ngoại vi, đối kháng với tác dụng làm tăng huyết áp của Catecholamine, duy trì sự ổn định của quá trình bài tiết muối nat-ri trong cơ thể nên làm giảm huyết áp. Ngoài ra, vỏ hành tây còn chứa nhiều ru-tin rất có lợi cho việc làm vững bền thành mạch, dự phòng tai biến xuất huyết não.
Nấm hương và nấm rơm: Là những thực phẩm giàu chất dinh dưỡng nhưng lại có khả năng phòng chống xơ vữa động mạch và hạ huyết áp, rất thích hợp cho những người bị cao huyết áp vào mùa Hè Thu.
Mộc nhĩ: Mộc nhĩ đen hay mộc nhĩ trắng đều là những thực phẩm rất có lợi cho người bị cao huyết áp. Hằng ngày có thể dùng mộc nhĩ trắng 10g hoặc mộc nhĩ đen 6g, đem nấu nhừ rồi chế thêm 10g đường phèn ăn trong ngày. Khi có biến chứng xuất huyết đáy mắt thì đây là loại thức ăn lí tưởng.
Tỏi: Có công dụng hạ mỡ máu và hạ huyết áp. Hằng ngày nếu kiên trì ăn đều đặn 2 tép tỏi sống hoặc đã ngâm giấm, hay uống 5ml giấm ngâm tỏi thì có thể duy trì huyết áp ổn định ở mức bình thường.
Lạc: Có công dụng hạ mỡ máu và giáng áp. Kinh nghiệm dân gian Trung Quốc dùng lạc ngâm với giấm ăn, sau chừng 5 ngày thì dùng được, mỗi ngày ăn 2 lần, mỗi lần 10 hạt.
Hải tảo, hải đới và tảo đỏ: Đều là những thực phẩm ở biển, có công dụng phòng chống xơ vữa động mạch và hạ huyết áp. Có thể dùng phối hợp cả ba thứ cùng một lúc hoặc thay thế nhau.
Đậu Hà Lan và đậu xanh: Là hai loại thực phẩm rất có lợi cho người bị cao huyết áp. Hằng ngày nên dùng giá đậu Hà Lan một nắm rửa sạch rồi ép lấy nước uống hoặc dùng làm rau ăn thường xuyên. Kinh nghiệm dân gian thường dùng đậu xanh hầm với hải đới ăn hoặc đậu xanh và vừng đen sao thơm, tán bột ăn mỗi ngày 2 lần, mỗi lần 50g để phòng chống cao huyết áp.
Sữa đậu nành: Là đồ uống lí tưởng cho người bị cao huyết áp, có công dụng phòng chống xơ vữa động mạch, điều chỉnh rối loạn li-pít máu và giáng áp. Mỗi ngày nên dùng 1.000ml sữa đậu nành pha với 100g đường trắng, chia uống vài lần trong ngày.
Táo: Loại táo to nhập từ Trung Quốc và các nước châu Âu, chứa nhiều Kali có thể kết hợp với lượng nát-ri dư thừa để đào thải ra bên ngoài, giúp cho cơ thể duy trì huyết áp ở mức bình thường. Mỗi ngày nên ăn 3 quả hoặc ép lấy nước uống 3 lần, mỗi lần chừng 50ml.
Lê: Có công dụng thanh nhiệt, trấn tĩnh và giáng áp, rất có lợi cho những người bị cao huyết áp có kèm theo chứng đau đầu, chóng mặt, ù tai, hay hồi hộp trống ngực. Mỗi ngày nên ăn đều đặn từ 1- 2 quả hoặc ép lấy nước cốt uống.
Chuối tiêu: Có công dụng thanh nhiệt, lợi niệu, thông tiện và giáng áp. Mỗi ngày nên ăn từ 1-2 quả, hoặc dùng vỏ quả chuối tiêu tươi 30-60g sắc uống thay trà.
Dưa hấu: Rất thích hợp cho người bị cao huyết áp vào mùa Hè vì có tác dụng thanh nhiệt và lợi niệu khá tốt, từ đó giúp cho huyết áp được ổn định. Người ta còn dùng vỏ dưa hấu 12g và thảo quyết minh (hạt muồng) 12g sắc uống thay trà hằng ngày, hoặc ăn hạt dưa hấu mỗi ngày từ 9-15g để làm hạ huyết áp.
Dưa chuột: Chứa nhiều muối Ka-li, có tác dụng thanh nhiệt, giải thử, lợi niệu và giáng áp, rất thích hợp cho người bị cao huyết áp về mùa hè. Nên dùng dưới dạng ăn sống hoặc chế thành dưa góp nhưng chú ý không cho quá nhiều muối.
Nho: Rất tốt cho người bị cao huyết áp, kể cả nho tươi hoặc nho khô, vì trong thành phần có chứa nhiều muối Ka-li nên có công dụng giảm áp, lợi niệu và bù đắp lượng Ka-li mất đi do dùng các thuốc lợi tiểu Tây y.
Mã thầy: Mỗi ngày dùng 60-120g rửa sạch, ép lấy nước, chia uống 3 lần trong ngày hoặc dùng 120g sắc cùng với hải đới 60g và hải tảo 60g, uống thay trà trong ngày.
Ngoài ra, người bị cao huyết áp nên dùng một số thực phẩm khác như ngô (đặc biệt là trà râu ngô), vừng, hạt sen, ngó sen, củ cải, đậu tương, cải xanh, bắp cải, dầu thực vật, trà tâm sen, trà hoa hòe, trà thảo quyết minh, trà cúc hoa, trà bạch cúc, trà kỉ tử, mật ong... Không hoặc hạn chế dùng một số thực phẩm như lòng đỏ trứng, não động vật, gan dê, thịt chim sẻ, thịt dê, thịt chó, thận lợn, mỡ động vật, rượu trắng, dưa hoặc cà muối mặn, thuốc lá, cà-phê, trà đặc, hạt tiêu, ớt, gừng...
BS. Phạm Thị Tuyết Nhung
Chế độ ăn với người tăng huyết áp
Người tăng huyết áp cần chú ý đến chế độ ăn có ka-li cao, nát-tri thấp, ít năng lượng, li-pít thấp, cô-lét-xtê-rôn thấp và vi-ta-min phong phú.
Các loại đậu, ngô, khoai tây, khoai sọ, chuối tiêu chứa nhiều ka-li, ít nát-tri nên ưu tiên sử dụng. Ma-giê cũng có tác dụng giảm huyết áp, nên đưa vào bữa ăn các thức ăn có chứa ma-giê như giá đỗ, nấm hương, đậu khô và đậu tươi, rau giền, rau chân vịt, các loại hải sản. Ca-đi-mi là chất làm tăng huyết áp, trong khi kẽm giảm tác dụng của ca-đi-mi. Vì vậy nên tăng lượng thức ăn có tỉ lệ kẽm/ca-đi-mi cao. Nguồn thức ăn chứa nhiều kẽm là hải sản, thịt gia cầm (nói chung các loại thịt), trong đó hàu là hải sản có nhiều kẽm nhất (có khi đạt đến1g/kg). Thực vật chứa ít kẽm và bị hao tổn nhiều trong quá trình chế biến. Can-xi là chất hạn chế tác dụng của na-tri, nên đưa vào cơ thể số lượng thoả đáng. Nguồn can-xi là sữa và các chế phẩm từ sữa. Ngoài ra, các loại đậu, tôm nõn, vừng, rong biển cũng chứa nhiều can-xi.
Theo nghiên cứu mới đây prô-tê-in trong các loại cá có tác dụng giảm huyết áp và phòng ngừa đột quỵ. Prô-tê-in trong đậu nành cũng có tác dụng phòng đột guỵ. Vì vậy, người tăng huyết áp nên ăn cá, đậu nành và các chế phẩm từ đậu nành. Prô-tê-in có nhiều trong thịt nhưng cần hạn chế ăn thịt chỉ nên dùng ở mức 1g/kg trọng lượng cơ thể là vừa. Người nặng 50 kg chỉ dùng nửa lạng thịt mỗi ngày và nên dùng thịt có mầu trắng (thịt gà, vịt...), bớt loại thịt mầu đỏ (thịt bò, trâu...). Ngoài ra, người tăng huyết áp nên tránh các loại thịt gia cầm non, các phủ tạng gia súc, gia cầm, tránh dùng các chất kích thích như rượu, cà phê, thuốc lá, nước trà đặc. Cùng với việc điều chỉnh chể độ ăn uống thích hợp, người tăng huyết áp nên tăng cường vận động vừa sức. Vận động quá sức sẽ làm tim mệt. Người tăng huyết áp không nên tập những môn thể thao nặng như tập tạ, đi cầu thang, chỉ nên đi bộ hằng ngày và tham gia những môn thể dục nhẹ và tập thiền có tác dụng giảm huyết áp khá rõ rệt. người bị tăng huyết áp nên tham gia tập đều đặn sẽ duy trì huyết áp ổn định lâu dài.
BS. Phạm Bình
Theo nguoicaotuoi.org.vn
Có tài liệu y học cho hay, người già sau khi chảy máu cam, có quá nửa số người trong vòng 1 đến 6 tháng có thể phát sinh xuất huyết não ở những mức độ khác nhau, tức trúng phong não (đột qụy) do xuất huyết.
Chuyên gia y học nhắc nhở người cao tuổi, đột nhiên chảy máu cam nhiều không phải là hiện tượng đơn thuần, riêng rẽ, mà có thể là tín hiệu thời kỳ sớm của xuất huyết não, nên cần phải nâng cao cảnh giác, kịp thời tới bệnh viện khám và điều trị nhằm đề phòng biến chứng đột ngột dẫn tới hậu quả nghiêm trọng.
Điều cần đặc biệt chú ý là, biến đổi bệnh lí xoang mũi, hốc mũi... cũng có thể dẫn tới chảy máu cam, cần phải tăng cường theo dõi. Đặc biệt là vào mùa hè nóng bức, mao mạch trong xoang mũi dãn nở, mạch máu bị nứt vỡ dẫn tới chảy máu cam, thông thường thấy xuất hiện khi ta hắt hơi mạnh hoặc ngoáy mũi.
Bũi Hữu Cường
Theo báo “Sức khoẻ người già” Trung Quốc
Chuyên gia y học nhắc nhở người cao tuổi, đột nhiên chảy máu cam nhiều không phải là hiện tượng đơn thuần, riêng rẽ, mà có thể là tín hiệu thời kỳ sớm của xuất huyết não, nên cần phải nâng cao cảnh giác, kịp thời tới bệnh viện khám và điều trị nhằm đề phòng biến chứng đột ngột dẫn tới hậu quả nghiêm trọng.
Điều cần đặc biệt chú ý là, biến đổi bệnh lí xoang mũi, hốc mũi... cũng có thể dẫn tới chảy máu cam, cần phải tăng cường theo dõi. Đặc biệt là vào mùa hè nóng bức, mao mạch trong xoang mũi dãn nở, mạch máu bị nứt vỡ dẫn tới chảy máu cam, thông thường thấy xuất hiện khi ta hắt hơi mạnh hoặc ngoáy mũi.
Bũi Hữu Cường
Theo báo “Sức khoẻ người già” Trung Quốc
Lá sen chữa mỡ máu rất hiệu nghiệm
Lá sen (Đông y gọi là Hà diệp hay Liên diệp), vị đắng, tính bình, tác dụng thanh thử, thăng dương, chỉ huyết.
Từ trước đến nay các sách báo đều viết: Dùng lá sen làm thuốc an thần chữa mất ngủ và hạ nhiệt, chữa sốt miệng khô khát. Đối với bản thân tôi, dùng lá sen khô nấu nước uống thấy có tác dụng hạ thấp gan nhiễm mỡ và mỡ máu (cholestérol). Tôi đã hai lần (cách nhau 2 năm) dùng lá sen chữa gan nhiễm mỡ và mỡ máu (cholestérol trong máu) rất hiệu nghiệm: Cụ thể: Ngày 7-5-2007, tôi đi kiểm tra sức khỏe định kì. Siêu âm thấy gan nhiễm mỡ. Xét nghiệm sinh hóa máu thì thấy: cholestérol (trị số bình thường từ 3,9-5,2 mmol/l) của tôi là 7,3 mmol/l. HDL (TSBT lớn hơn hoặc bằng 0,9mmol/l) của tôi là: 2,0 mmol/l. LDL (TSBT nhỏ hơn hoặc bằng 3,4 mmol/l) của tôi là 4,7 mmol/l.
Theo kinh nghiệm dân gian và một số anh em bạn bè trong xã, tôi đã uống lá sen phơi khô, mỗi ngày uống một lá thái hoặc vò nhỏ hãm như hãm nước trà. Đến tháng 8-2007, tôi đi siêu âm thì thấy gan không còn nhiễm mỡ nữa. Lượng cholestérol hạ xuống 4,3 mmol/l. Nghĩa là nằm trong khoảng dưới của trị số bình thường. Từ đó đến nay đã gần 2 năm, tôi đã đi xét nghiệm sinh hóa máu tới 5 lần (ở 2 cơ sở y tế khác nhau) lượng cholestérol trong máu vẫn 4,3 mmol/l. Tới ngày 5-5-2009 tôi đi xét nghiệm máu thì thấy lượng cholestérol trong máu lên tới 5,1mmol/l gần vượt trị số bình thường. Lần này, tôi lại uống 40 ngày liền, mỗi ngày 1 lá sen bánh tẻ phơi khô. Ngày 13-7-2009 tôi đi xét nghiệm máu thì thấy lượng cholestérol lại tụt xuống 4,3 mmol/l. HDL= 0,9; LDL=2,8 mmol/l.
Theo tôi thì lá sen phơi khô, sắc hoặc hãm nước uống có tác dụng rất tốt trong việc điều trị gan nhiễm mỡ và làm giảm lượng cholestérol trong máu.
Mặt khác cũng cần ăn uống hợp lí, luyện tập thể dục, thể thao thường xuyên và phù hợp với lứa tuổi.
Trước hết là kiêng ăn phủ tạng động vật (ta quen gọi là lòng, gan) da, nhất là óc (não), giảm rượu, giảm bia
Thân Pha
(Xã Nội Hoàng, huyện Yên Dũng,
tỉnh Bắc Giang, ĐT: 0168 9173263)
Theo nguoicaituoi.org.vn
Từ trước đến nay các sách báo đều viết: Dùng lá sen làm thuốc an thần chữa mất ngủ và hạ nhiệt, chữa sốt miệng khô khát. Đối với bản thân tôi, dùng lá sen khô nấu nước uống thấy có tác dụng hạ thấp gan nhiễm mỡ và mỡ máu (cholestérol). Tôi đã hai lần (cách nhau 2 năm) dùng lá sen chữa gan nhiễm mỡ và mỡ máu (cholestérol trong máu) rất hiệu nghiệm: Cụ thể: Ngày 7-5-2007, tôi đi kiểm tra sức khỏe định kì. Siêu âm thấy gan nhiễm mỡ. Xét nghiệm sinh hóa máu thì thấy: cholestérol (trị số bình thường từ 3,9-5,2 mmol/l) của tôi là 7,3 mmol/l. HDL (TSBT lớn hơn hoặc bằng 0,9mmol/l) của tôi là: 2,0 mmol/l. LDL (TSBT nhỏ hơn hoặc bằng 3,4 mmol/l) của tôi là 4,7 mmol/l.
Theo kinh nghiệm dân gian và một số anh em bạn bè trong xã, tôi đã uống lá sen phơi khô, mỗi ngày uống một lá thái hoặc vò nhỏ hãm như hãm nước trà. Đến tháng 8-2007, tôi đi siêu âm thì thấy gan không còn nhiễm mỡ nữa. Lượng cholestérol hạ xuống 4,3 mmol/l. Nghĩa là nằm trong khoảng dưới của trị số bình thường. Từ đó đến nay đã gần 2 năm, tôi đã đi xét nghiệm sinh hóa máu tới 5 lần (ở 2 cơ sở y tế khác nhau) lượng cholestérol trong máu vẫn 4,3 mmol/l. Tới ngày 5-5-2009 tôi đi xét nghiệm máu thì thấy lượng cholestérol trong máu lên tới 5,1mmol/l gần vượt trị số bình thường. Lần này, tôi lại uống 40 ngày liền, mỗi ngày 1 lá sen bánh tẻ phơi khô. Ngày 13-7-2009 tôi đi xét nghiệm máu thì thấy lượng cholestérol lại tụt xuống 4,3 mmol/l. HDL= 0,9; LDL=2,8 mmol/l.
Theo tôi thì lá sen phơi khô, sắc hoặc hãm nước uống có tác dụng rất tốt trong việc điều trị gan nhiễm mỡ và làm giảm lượng cholestérol trong máu.
Mặt khác cũng cần ăn uống hợp lí, luyện tập thể dục, thể thao thường xuyên và phù hợp với lứa tuổi.
Trước hết là kiêng ăn phủ tạng động vật (ta quen gọi là lòng, gan) da, nhất là óc (não), giảm rượu, giảm bia
Thân Pha
(Xã Nội Hoàng, huyện Yên Dũng,
tỉnh Bắc Giang, ĐT: 0168 9173263)
Theo nguoicaituoi.org.vn
Subscribe to:
Posts (Atom)